Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Thử tìm hiểu một số ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt

  Calathau : Một cuộc đối thoại rất hay giữa ông Thomas Friedman và ông Nguyễn Trần  Bạt (Chủ tịch InvestConsult Group).Hay nói chính xác hơn là những ý kiến sắc sảo của ông Nguyễn Trần Bạt trả lời những câu hỏi hóc búa của ông Thomas Friedman vừa được đăng tải trên mạng Tầm Nhìn khiến cộng đồng mạng chú ý, trong đó có cụ Trương Trác Làng ta. Mới đây trên Blog của mình cụ Tr Trác viết :

Lần nào đọc NTB tôi cũng ngớ người ra bởi sự độc đáo và mới mẻ trong các ý kiến của ông. Nó cho ta rất nhiều kiến thức ta chưa tìm thấy ở tác giả nào khác. Bởi vậy tôi đề nghị các Bạn hãy giành thời gian để đọc bài báo khá dài này. Các Bạn không cần phải dùng đến sự kiên nhẫn đâu bởi khi đã đọc các Bạn sẽ bị cuốn hút và đọc một mạch đến hết bài.
Mõ xin dán lên đình Làng để các cụ cùng bình luận .

Nguyễn Anh Tuấn : Xin giới thiệu với ông Thomas Friedman, đây là ông Nguyễn Trần Bạt.

FriedmanChào ông!
NTB: Chào ông Thomas Friedman! Ông không biết là những diễn giả Việt Nam sau khi ông rời Việt Nam rồi sẽ rất khổ, vì những ai nói ngược với ông sẽ bị xã hội lên án. Cho nên tôi sẽ phải buộc phải hoãn các buổi nói chuyện của tôi ít nhất là ba tháng sau khi ông rời Việt Nam. Phải nói là tôi rất hạnh phúc khi có quyền tổ chức một bữa ăn trưa với ông. Và cũng phải nói là trên thế giới không có nhiều người tạo cho tôi cảm giác như vậy. Ở Mỹ thì tôi đã có vinh dự như thế, đó là lần gặp gỡ với ngài Herry Kissinger. Vừa rồi có một nhà báo đến đây đề nghị tôi cho họ có mặt trong bữa ăn này để có thể phỏng vấn ông, tôi từ chối. Tôi nói trong thỏa thuận của tôi với ông Friedman không có sự có mặt của báo chí, mà tôi thì không tiếp cận được bây giờ để thương lượng nên đành để dịp sau. Tôi nói rằng tôi sẽ cố gắng trổ tài để có thể tạo cho ông cảm giác có thể đến Việt Nam thêm một lần nữa.
FriedmanTôi đánh giá cao điều đó. Tôi muốn hỏi ông về công việc của ông?
NTB: Tôi là một luật sư, và tôi làm chủ một hãng luật.
FriedmanÔng làm việc giữa các doanh nghiệp quốc tế với Việt Nam phải không?
NTB: Tôi là người Việt Nam đầu tiên làm việc ấy.
FriedmanCái gì cho ông ý tưởng ấy?
NTB: Giữa những năm 1970 tôi dự báo chủ nghĩa xã hội sẽ sụp đổ, do đó chúng tôi mất chỗ dựa từ Liên Xô và các đồng minh, và những người cộng sản Việt Nam buộc phải mở cửa. Tôi đi học những kiến thức cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường.
FriedmanÔng học về kinh tế thị trường bằng cách nào?
NTB: Tôi học bằng cách dự những hội thảo ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới, và đặc biệt là học luật. Tôi hợp tác với các công ty luật ở New York từ năm 1988. Có lẽ tôi là người Việt Nam đầu tiên tiến hành các dịch vụ cung cấp cho sự kết nối giữa hai phía công ty Việt Nam và công ty Hoa Kỳ. Ông là người cổ vũ chuyên nghiệp cho toàn cầu hóa, còn tôi cũng là người cổ vũ nửa chuyên nghiệp.
FriedmanVâng ông là người thực hành còn tôi là người nghĩ.
NTB: Tôi cũng là người nghĩ, tôi là một trong những người viết sách hàng đầu ở Việt Nam.
FriedmanÔng có nói tiếng Anh?
NTB: Tôi đọc được nhưng không nói được. Thế hệ của tôi không ai biết nói tiếng Anh thật tốt cả.
FriedmanRất thú vị là một người không biết nói tiếng Anh mà lại trở thành cái cầu nối rất lớn.
NTB: Các hãng công nghiệp lớn nhất của Mỹ đến Việt Nam bằng sự giới thiệu của tôi. Có lẽ đầu tiên phải kể đến Boeing. Tôi là người soạn hợp đồng cho tất cả các vụ mua bán Boeing ở Việt Nam. Tôi có một số năm làm đại diện cho hãng McDonnell Douglas tại Việt Nam. Khách hàng của tôi có cả Lockheed Martin, người bán vệ tinh đầu tiên cho Việt Nam.
FriedmanCông ty của ông có bao nhiêu người?
NTB: Chúng tôi có khoảng 250 người ở mức thấp, và mức cao thì đến 300 người.
FriedmanTrong lĩnh vực của ông cái gì là mới nhất trong giai đoạn hiện nay?
NTB: Tôi nghĩ là có những giai đoạn khác nhau của sự thức tỉnh các khái niệm kinh tế thị trường ở Việt Nam. Giai đoạn đầu tiên là tôi cổ vũ các hãng công nghiệp, sau đó thì đến giai đoạn của các hãng dịch vụ tài chính và ngân hàng, sau đó là các hãng liên quan đến công nghệ thông tin. IBM là khách hàng của tôi, thậm chí IBM đã từng làm việc trong văn phòng của tôi. Tôi là người đưa KMPG và Pricewaterhouse vào Việt Nam, đưa Citibank vào Việt Nam. Tất cả những giai đoạn khác nhau tôi gọi sự thức tỉnh các khái niệm kinh tế.
FriedmanBước tiếp theo là gì?
NTB: Bây giờ thì chúng tôi phải cấu trúc lại hai thứ cùng một lúc. Thứ nhất là tái cấu trúc lại ý thức của người Việt về kinh tế thị trường, tức là tái cấu trúc lại thể chế kinh tế và có những khía cạnh thể chế chính trị. Chúng tôi đang phấn đấu làm như vậy trên thực tế. Thứ hai là tái cấu trúc về bản chất nền kinh tế. Người Việt nói vậy thôi, làm rất nhiều thứ nhưng không ý thức được về việc khái quát hóa thành lý thuyết. Cho nên nếu ông thảo luận với người Việt, ông để ý sẽ thấy nhiều nhà chính trị của chúng tôi họ có trí tuệ như một nhà buôn, như một người làm kinh doanh. Bây giờ phải làm thế nào để các quan chức của chính phủ chúng tôi có ý thức về tư cách của người làm chính sách chứ không phải tư cách của nhà buôn. Ông biết rằng chính phủ chúng tôi vừa phải quản lý nhà nước xét về phương diện vĩ mô, vừa phải quản lý hệ thống xí nghiệp của họ. Vì thế cho nên họ trộn lẫn giữa năng lực của nhà buôn với năng lực của người làm chính sách và đôi khi nhầm lẫn địa vị của mình.
FriedmanNếu mà ngày nào đó ông trở thành thủ tướng hay một chức vụ cao nhất của Việt Nam thì ông sẽ làm việc gì trước?
NTB: Tôi mời ông đến Việt Nam tư vấn cho tôi, sau một ngày tôi bàn giao mọi việc lại cho ông thủ tướng kế nhiệm tôi và tôi bàn giao luôn cả ông. Tôi nhớ chủ tịch Citibank khi đến Việt Nam tiếp xúc với chúng tôi và nhiều nhà lãnh đạo khác có hỏi: Chính phủ của các ông có ý thức được những sai lầm của họ không. Tôi trả lời: Chẳng có con chuột nào ý thức được sự hôi hám của nó. Ngay cả bây giờ các con chuột cũng chưa ý thức được. Để ý thức được về sự hôi hám ấy là vô cùng khó.
FriedmanNguồn hôi nhất là gì?
NTB: Nguồn hôi nhất nó nằm giữa khu vực quyền lực và khu vực tài chính, tức là giữa chính trị và kinh tế, đó là một sự liên minh không tự nguyện nhưng rất nhạy cảm. Và sự kết nối có chất lượng tham nhũng nhạy bén hơn nhiều so với kết nối mà ông cổ vũ trong thế giới phẳng.
FriedmanNó đang thay đổi tốt lên hay xấu đi, hay nó vẫn thế?
NTB: Cái xấu càng ngày càng thông minh lên và cái tốt càng ngày hiếm hoi.
FriedmanViệt Nam vẫn đang phát triển 5,5% đấy thôi, vậy vấn đề là gì?
NTB: Có lẽ mọi người trên thế giới hiểu sai về mấy phần trăm tăng trưởng của Việt Nam. Trong các phép tính về tăng trưởng người Việt Nam không hề tính đến những yếu tố cần khấu trừ. Chi phí về môi trường là không được tính đến, chi phí để đảm bảo cho trí tuệ tăng trưởng, đảm bảo cho xã hội luôn luôn có việc làm không được tính đến. Tức là cả môi trường tinh thần lẫn môi trường tự nhiên đều không được tính đến trong tất cả các phép tính. Cái đấy không phải chỉ có ở Việt Nam, cả người hàng xóm vĩ đại của chúng tôi cũng rơi vào tình trạng như vậy.
FriedmanLàm thế nào mà ông thông thái thế?
NTB: Tôi nghĩ rằng người ta muốn hiểu được phụ nữ thì phải yêu họ, tôi yêu cuộc sống này và quan sát nó, nhìn lâu là thấy.
FriedmanNhiều người trẻ hỏi tôi là muốn làm như ông thì phải làm gì. Tôi bảo là, thứ nhất là phải đánh máy rất nhanh, thứ hai là tiếng Anh tốt, thứ ba là phải có kiến thức cơ bản về lịch sử, chính trị, địa lý, nhưng quan trọng nhất là phải thích công việc.
NTB: Yêu con người là động lực cơ bản nhất để con người trở thành kẻ thành đạt.
FriedmanTại sao?
NTB: Không hiểu con người, không hóa thân vào nó thì bằng mắt thường chúng ta không thể quan sát hết được con người. Tôi dành tất cả ngày làm việc của tôi trong tuần vào bữa trưa với các đồng nghiệp của tôi, nói đủ các khía cạnh, bọn trẻ chưa có người yêu thì tôi bảo làm thế nào để có người yêu, còn đối với những người già thì tôi nói rằng làm thế nào để không phải đến bệnh viện. Lâu lâu chúng tôi nói về Putin, chúng tôi không chỉ nói về Putin, chúng tôi nói về những người thích và không thích ông ấy. Khi biết được ai thích ông ấy và ai không thích thì ta biết được nhiều thứ lắm.
Friedman: Tôi thấy là khi thích con người thì con người nở ra như một đóa hoa.
NTB: Nó không chỉ nở ra như một đóa hoa mà còn nở ra như một cục nam châm có thể hút. Con người có một sức hút rất lớn, tâm lý con người cũng tuân thủ các quy luật của trường hấp dẫn. Durkheim giải thích hiện tượng con người hút lẫn nhau rất thú vị.

 

FriedmanÔng thấy Putin như thế nào?
NTB: Tôi nghĩ ông ấy là một ví dụ có lẽ cuối cùng của một nền chính trị cũ và đặc điểm phổ biến của nền chính trị ấy chính là không biết ngượng.
FriedmanÔng có nghĩ là ông ấy có tương lai?
NTB: Nếu mà ông ấy có tương lai thì chúng ta không có, loài người không có.
FriedmanKhi ông ngồi xuống nói chuyện với các nhà lãnh đạo của Việt Nam, ông nói những điều khá thông thái như thế này họ có hiểu không?
NTB: Có lẽ chúng ta phải cố gắng để hiểu những nhà lãnh đạo của chúng tôi một cách tử tế. Họ là những người thông thái thật chứ họ không ú ớ. Họ là hậu duệ của những người đã điều hành một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Để thắng được người Mỹ là việc vô cùng khó.
Friedman: Ông nói chuyện rất hay và tôi có nhiều câu hỏi. Việt Nam là đất nước duy nhất trên thế giới này đánh lại Pháp, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, ông có thể giải thích cho tôi điều ấy?
NTB: Người Việt Nam có một năng lực chịu đựng, chịu khổ vượt ra khỏi sự tưởng tượng của con người. Các ông không tưởng tượng nổi sức chịu đựng của họ. Chiến tranh giữa chúng ta với nhau đã kết thúc 40 năm rồi, cho đến bây giờ tôi cũng chưa thấy người Mỹ nào tưởng tưởng được. Tôi là bạn của tất cả các thế hệ đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, tôi cho rằng người Mỹ chưa hiểu được sức chịu đựng gian khổ của người Việt Nam. Ví dụ nền kinh tế từ 7 – 8% xuống còn 5%, có thể xuống còn 2 - 3% thôi thì một số bộ phận mong manh trong giới trí thức của chúng tôi tưởng rằng thể chế này sắp sửa sụp đổ, bởi nền kinh tế không tăng trưởng. Đấy là một sự nhầm lẫn khổng lồ.
Friedman: Sự mạnh mẽ trong lòng nó đến từ đâu?
NTB: Nó đến từ chỗ người Việt rất dễ cảm thông lẫn nhau về chuyện này. Người Việt Nam bao giờ khi đối mặt với nhau họ cũng muốn hơn nhau một chút, vì thế cho nên họ tự làm nở mình trong sự phấn đấu để anh nọ hơn anh kia.
FriedmanCó rất nhiều người Việt Nam hỏi tôi và bây giờ tôi sẽ hỏi ông là Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc như thế nào nếu Trung Quốc một ngày nào đó quyết định đưa một cái giàn khoan vào biển Đông?
NTB: Tôi nghĩ người Trung Quốc nếu có làm việc ấy thì cũng sẽ thất bại. Người Trung Quốc sẽ lắp được cái giàn khoan ấy, nhưng để khai thác được dầu thì không. Người Việt Nam sẵn sàng đốt cái đó. Đối mặt với người Việt Nam về lâu dài là rất khó, bất kỳ ai.
Friedman: Người Trung Quốc có biết được không?
NTB: Không có một kẻ mạnh nào biết được tất cả mọi thứ về người Việt. Để biết được người Việt thì phải là kẻ yếu. Người Lào chắc chắn là hiểu chúng tôi hơn, người Campuchia hiểu chúng tôi sâu sắc hơn người Mỹ và người Trung Quốc.
FriedmanTôi có một câu nói là ở Mỹ những người có quyền thì chẳng bao giờ nghĩ về nó, còn những người không có quyền thì bao giờ cũng nghĩ về quyền. Điều gì là quan trọng nhất mà tôi có thể nói với người Mỹ về Việt Nam trong thời gian tới?
NTB: Thứ nhất là người Việt Nam rất thích người Mỹ. Tại sao lại thích người Mỹ? Bởi vì người Việt Nam rất yêu tự do, và người Mỹ là những người tự do. Do đó về mặt tự nhiên hai người cùng yêu chung một thứ là tự do. Ở Việt Nam, người đề phòng người Mỹ, phân vân về người Mỹ là chính phủ chứ không phải người dân. Thế nhưng không phải chỉ có chính phủ của những người cộng sản mới phân vân về người Mỹ, mọi chính phủ Việt Nam trước đây và trong tương lai đều phân vân về người Mỹ. Vì phân vân về người Mỹ như một đối tượng quá mạnh nên họ không thể hiểu được người Mỹ. Những người cộng sản Việt Nam hiện nay phân vân về người Mỹ không nhiều bằng ông Thiệu trước đây.
FriedmanTôi cũng đồng ý về mặt văn hóa thì người Việt Nam cũng có cái giống người Mỹ.
NTB: Việt Nam có rất nhiều giai đoạn di dân, nhưng không có cuộc di dân nào mà hứng thú và gian khổ và phải trả giá đắt như người Việt Nam di dân đến Mỹ. Phải nói là họ di dân một cách cực kỳ thành công, họ hạnh phúc. Gia đình nhà tôi cũng đóng góp vào khoảng 200-300 người.
Friedman: 10 ngày trước đây tôi đã ở Ukraina. Tôi đi từ một nước trung bình sống bên cạnh một con gấu, bây giờ tôi đến một nước trung bình sống bên cạnh con hổ. Cả hai nước đều đang muốn tìm cách đối phó với hai con đấy, con gấu thì đang yếu đi, còn con hổ thì càng ngày càng mạnh hơn. Tôi cảm nhận thấy sự song song rất là phù hợp giữa hai nước. Tôi có lẽ là người duy nhất trên thế giới này đã đến cả Hà Nội và Kiev ở thời điểm này.
NTB: Tôi xin kể cho ngài nghe một kỷ niệm của tôi. Đại sứ Ukraina cách đây năm năm ở Việt nam là bạn của tôi. Ông ấy khoe với tôi về cuộc cách mạng Cam. Tôi có hàng tuần liền để nói chuyện với ông ấy và tôi đả phá mọi cuộc cách mạng, không chỉ có cách mạng cam. Tôi có một lý thuyết gọi là lý thuyết phi cách mạng hóa đời sống chính trị. Ông ấy đề nghị tôi đến Kiev nói chuyện với hội đồng an ninh quốc gia của Ukraina. Ông ấy chuẩn bị rất cẩn thận, nhưng trong lúc đó thì một cuộc cách mạng khác lại diễn ra và tôi không đi được. Ông ấy đành phải triệu đài truyền hình Kiev đến phỏng vấn tôi tại Hà Nội.
Tất cả các quốc gia thuộc không gian hậu Xô Viết đều trải qua những cuộc cách mạng như vậy. Không gian hậu Xô Viết là đề tài khoa học chính trị mà tôi nghiên cứu 20 năm nay. Kết quả của sự quan sát ấy là tôi viết được một quyển sách có tên là “Cải cách và sự phát triển”, tức là tôi cổ vũ các cuộc cải cách. Ngay cả cuộc cách mạng Pháp vĩ đại thì cái mà nước Pháp nhận được là Bonaparte chứ không phải là tự do. Cách mạng tháng 10 cũng vậy. Có lẽ có một cuộc cách mạng mà người ta không phải trực tiếp nhận được kết quả quá tiêu cực, đó là cách mạng Mỹ. Tôi đang phân vân là không biết cái gọi là cách mạng Mỹ nó có chất lượng cách mạng thật không hay nó là một cuộc cải cách chính trị thông minh. Khi tôi đọc cuốn sách “nền dân trị Mỹ” của Tocqueville, qua sự mô tả của ông ấy thì tôi không có cảm giác cách mạng Mỹ là một cuộc cách mạng. Tôi nghĩ có lẽ không gian quyền lực, không gian chính trị của thế giới càng ngày nó càng phẳng theo lý thuyết của ông. Tôi chưa hoàn toàn đồng ý với ông là thế giới phẳng, nhưng tôi đồng ý với ông là không gian chính trị và thế giới chính trị nó đã phẳng. Tất cả các mẹo mực của các nhà chính trị mọi nơi đều được học và ứng dụng ngay lập tức. Nói thật với ông, có lẽ ông gây cho tôi một ấn tượng là ông là một họa sĩ vĩ đại mô tả thế giới trong giai đoạn toàn cầu hóa hay nhất từ trước đến nay. Nhưng ông chỉ mới mô tả nó thôi, còn phân tích các yếu tố để tạo ra sự phẳng, và sự không phẳng tiềm ẩn bên trong của tất cả các yếu tố là công việc tiếp theo tôi đang làm. Trong buổi trao đổi với tiến sĩ Herry Kissinger vào năm 1995 ở Washington DC, tôi có nói Kissinger rằng toàn cầu hóa về kinh tế không phải là một yếu tố nhân tạo mà là một yếu tố tự nhiên, nó tự nhiên đến. Còn toàn cầu hóa về văn hóa buộc phải có vai trò của tri thức.
FriedmanKhi công nương Diana còn sống thì cô ấy đã phàn nàn là trong hôn nhân của cô ấy có ba người. Ở Ukraina và Việt Nam có những nét tương tự ở chỗ là khi mà Putin tỉnh dậy thì nhận ra hôn nhân của mình có ba người. Ngày xưa có Putin và tay sai của ông ta ở Ukraina điều khiển mọi thứ, bỗng nhiên một hôm có một người thứ ba đến. Đó là những người trẻ bắt đầu vươn lên, những người có tham vọng muốn làm người của thế giới. Họ dần dần trở nên một giai cấp mới và họ muốn những trở thành người khác. Họ không cần Mỹ, họ không cần NATO. Họ muốn tham gia vào cộng đồng châu Âu. Ở Việt Nam có nhóm nào giống như vậy không, và ông có phải là chủ tịch của họ không?
NTB: Phải nói với ông là rất nhiều người mời tôi làm chủ tịch của những nhóm như vậy nhưng tôi từ chối. Những trí thức Việt Nam thông minh là những trí thức không tranh dành quần chúng với những người cộng sản cầm quyền. Tôi không định tranh dành quần chúng của họ. Tất nhiên, tôi không làm người thứ ba trong câu chuyện hôn nhân này. Tôi nghĩ là tôi có thể trở thành bố vợ của nhân vật thứ ba. Ở Việt Nam có cả một thế hệ có kinh nghiệm về chuyện mà ông mô tả trong ví dụ của ông, không phải thế hệ ông Tuấn và ông Quang mà thế hệ trước nữa, thế hệ tôi. Người Việt Nam khi lập gia đình vào thế hệ của tôi thường vẽ tình yêu một cách rất đẹp. Hạnh phúc hay sự tồn tại của hôn nhân được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn có chất lượng vẽ như vậy. Tất cả các cặp vợ chồng chán nhau đến mức nào đó nhưng không dám nói, bởi vì họ bị ràng buộc bằng những tiêu chuẩn vẽ. Khi thời cuộc thay đổi, đất nước chúng tôi mở cửa thì bỗng nhiên những người đàn ông đẹp đẽ theo tiêu chuẩn cũ trở thành những thằng hèn xuất hiện trước mắt tất cả các cô vợ cùng một lúc. Phải nói rằng, do hoàn cảnh, do việc phải đối mặt với sự thiếu thốn, họ bắt đầu thức tỉnh để đòi hỏi. Các trí thức của chúng tôi giải thích là do nhu cầu về tự do làm cho con người đòi hỏi cái nọ, cái kia, nhưng không phải như vậy. Thực ra tự do là phương tiện để con người thay đổi số phận của mình, chứ không phải tự do là cái người ta đòi hỏi để ăn. Và tự do mà người ta đòi hỏi để thay đổi thân phận của mình ở Việt Nam bắt đầu từ người phụ nữ. Ở Việt Nam tất cả các mặt tích cực lẫn tiêu cực bao giờ cũng bắt đầu từ người phụ nữ. Chính phủ chúng tôi muốn chống tham nhũng một cách có hiệu quả thì phải đề nghị những người phụ nữ khuyên bảo chồng hay đòi hỏi chồng là không được đem những đồng tiền ăn cắp mang về nhà. Còn khi họ vẫn yêu cầu đem về nhà thì các ông chồng vẫn tiếp tục ăn cắp.
Tôi có những người bạn có cương vị khá cao ở Trung Quốc. Tôi quen những người Mỹ ba thế hệ có mặt ở Bắc Kinh, người ta nói rằng tham nhũng ở Trung Quốc dần dần sẽ bớt đi, bởi vì khi con cái họ có tiền đi du học, đi làm lương cao thì người ta tự hào và sẽ bớt tham nhũng, tôi chỉ cười. Tôi nói: rồi các bạn xem thực tế sẽ thế nào.
FriedmanTầng lớp trung lưu này nó cũng đang phát triển?
NTB: Nó đang phát triển nhưng nó phát triển không giống như cái mà phương Tây chờ đợi. Những yếu tố xấu là yếu tố chủ yếu cấu tạo ra tầng lớp trung lưu. Tầng lớp trung lưu về cơ bản là tầng lớp xấu.
FriedmanNhững yếu tố xấu ấy là gì?
NTB: Thứ nhất, các phẩm hạnh con người, các tình cảm cơ bản mà con người cần phải có nó không còn trong giai đoạn hiện nay, hay nói cách khác là tính nhân hậu thoái hóa một cách rất đáng để than phiền. Thứ hai là coi thường lớp dưới. Họ mất đi sự cảm thông đối với tầng lớp dưới, do đó nó không cấu tạo thành tấm gương cho sự phát triển các giá trị, mà nó trở thành thứ Doping thúc đẩy những mặt bệnh hoạn của sự phát triển. Trong tất cả các yếu tố cần phải chăm sóc để phát triển ở Việt Nam thì yếu tố đạo đức vẫn là một yếu tố buộc phải chú ý tới. Chúng ta muốn có một thế giới mà con người vẫn còn tử tế, hay nói cách khác là nó vẫn còn giữ nguyên các tiêu chuẩn cơ bản của con người thì chúng ta buộc phải chăm sóc đạo đức.
Friedman: Gọi nó là quyền công dân có được không?
NTB: Không. Giá trị công dân hay tiêu chuẩn công dân là một khía cạnh tốt, nhưng không phải là khía cạnh cực tốt trong cái tôi vừa nói. Ở phương Tây có một khái niệm mà tôi cho rằng có thể tiếp cận với tương lai của loài người đó chính là “quyền con người”. Tôi đã gọi thế kỷ XXI này là thế kỷ về quyền con người. Đấy là động lực cơ bản để phát triển của thế kỷ XXI.

 

FriedmanTừ Việt Nam ông nhìn thấy Mỹ như thế nào?
NTB: Tôi vẫn nói với nhiều người Mỹ, trong đó có cả ông đại sứ là người Mỹ phải cố gắng đi qua cơn khủng hoảng này. Bởi vai trò kéo cỗ xe nhân loại đi lên vẫn tiếp tục đặt trên vai người Mỹ. Tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ là tốt nhất trong tất cả các lực lượng trung lưu có ở trên thế giới này.
FriedmanÔng có nghĩ rằng Trung Quốc sẽ vượt chúng tôi không?
NTB: Tôi nghĩ rằng thế giới đang có một sự lộn xộn về tiêu chuẩn, do sự khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ mà ngay cả người Mỹ cũng không còn tự tin vào giá trị của mình. Nhưng tôi cho rằng điều đó không kéo dài, người Mỹ sẽ lấy lại và đấy là điều may của nhân loại. Ông có thể kiểm nghiệm điều ấy ngay mà không cần phải nghe một mình tôi, ông có thể phỏng vấn mọi người trên thế giới. Sự trẻ trung về mặt văn hóa của nước Mỹ tạo ra một khả năng là tầng suy thoái nó không dầy như châu Âu. Nước Mỹ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa hay quốc gia cộng sản nhất trên thế giới. Bởi vì nước Mỹ là một nước có lượng dân nhập cư khổng lồ và nó luôn luôn được làm nghèo thường xuyên để không trở thành những kẻ giàu có quan liêu. Sự được làm nghèo thường xuyên luôn làm thức tỉnh người Mỹ, làm cho họ có kinh nghiệm về sự nghèo khổ của nhân loại và do đó họ có khả năng lãnh đạo thế giới.
Cách đây hai ngày có một tờ báo phỏng vấn tôi về khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có một Bộ trưởng nói rằng ông ấy không nhìn thấy ở đâu khái niệm ấy, mô hình ấy. Nhà báo đến hỏi tôi: ông có thấy nó ở đâu không? Tôi trả lời: tôi thấy hàng ngày. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Là một nền kinh tế mà ở trong đấy các lực lượng kinh tế của nhà nước là chủ yếu và tất cả các khái niệm liên quan đến sở hữu đều mơ hồ, đều do dự, đều không nhất quán. Đấy là hai đặc điểm cơ bản quy định một nền kinh tế là kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi cho rằng trong tất cả các phổ quát của nền văn minh mà chúng ta đang sống thì khái niệm sở hữu là quan trọng nhất. Trên cơ sở của đặc điểm khác nhau, mức độ khác nhau của khái niệm sở hữu mà người ta định ra tính chất chính trị của chế độ. Như thế chúng ta có thể khái quát hóa bản chất của chiến tranh lạnh là sự xung đột của các hệ thống sở hữu.
FriedmanCó hai loại đất nước trên thế giới bây giờ, một loại đất nước cố làm cho chính phủ mạnh lên, một loại cố làm cho dân giàu lên. Người Việt Nam hơi mắc bệnh sợ không ra ngoài, bởi nó cũng đang muốn chính phủ nó mạnh, nhưng cũng đang muốn dân mạnh?
NTB: Cũng không phải thế, đấy là một sự hiểu lầm của các ông. Bởi vì các quan chức của chính phủ có hai địa vị, địa vị là quan chức của chính phủ và địa vị là người dân, do đó họ chăm sóc cả hai thứ. Cách ngắn nhất để chăm sóc có hiệu quả bên trái của câu chuyện này, tức là mặt nhân dân ở trong người công chức ấy, đó là tham nhũng. Cách tốt nhất và dễ nhất là tham nhũng. Tôi nhìn thấy hiện tượng tham nhũng và tôi viết về nó thú vị lắm. Bài toán của những dân tộc như chúng tôi, của đất nước chúng tôi là rất khó. Giới trí thức chúng tôi hay chỉ trích Chính phủ, nhưng tôi đang rất phân vân trong việc đổ lỗi cho Chính phủ. Nước Nga chẳng hạn, nước Nga ra khỏi chủ nghĩa cộng sản rồi nhưng nó không đến tự do. Vậy nó ở đâu? Đấy là một câu hỏi không thể trả lời một cách dễ dàng. Nếu trả lời một cách thẳng thắn thì bắt buộc chúng ta phải xúc phạm cá nhân tổng thống Putin, mà tôi không muốn làm việc đấy. Nhưng ông ấy không dắt nước Nga đi đến dân chủ được, bởi ông ấy không có khái niệm về dân chủ thật, ông ấy không có đam mê dân chủ, ông ấy hành động như một chủ tịch của công ty chứ không phải tổng thống nước Nga.
Trung Quốc cũng thế. Rất nhiều người phương Tây cứ mô phỏng, suy đoán về tương lai Trung Quốc. Tương lai của Trung Quốc vô cùng dễ đoán. Một quốc gia phát triển theo khuynh hướng ấy không thể tránh tan rã được, vấn đề là nó tan rã theo kịch bản nào, tan rã nhà nước hay tan rã một nền kinh tế. Có cả kịch bản tan rã về mặt văn hóa nữa chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế hoặc chính trị. Bởi thực ra đấy là một cộng đồng văn hóa rất vô lý. Ông cứ thử tượng tượng xem có một nền văn hóa nào bao vây toàn bộ, tịch thu toàn bộ tự do của hơn một tỷ con người. Tan rã kinh tế vì khoảng cách giàu nghèo, tan rã chính trị vì cát cứ vùng miền, tan rã về văn hóa, đấy là những sự tan rã khủng khiếp, không thể nào tưởng tượng được.
Lịch sử của Trung Quốc là lịch sử giữa hai cuộc tan rã, lịch sử Việt Nam là lịch sử giữa hai cuộc chiến tranh, mà là chiến tranh xâm lược. Cho nên để nghiên cứu thân phận những dân tộc như dân tộc chúng tôi buộc phải rất cẩn thận. Tôi lấy ví dụ như người Hàn Quốc hay người Nhật chẳng hạn. Họ tham gia cuộc chiến tranh, họ dây dưa vào cuộc chiến tranh với một nước Mỹ ở trạng thái trước đây. Nhưng nếu họ dây dưa vào cuộc chiến tranh với nước Mỹ ở trạng thái hiện nay, chưa chắc họ đã có số phận giống như họ đang có. Ông có thấy nước Mỹ từ thời chiến tranh thế giới thứ hai và nước Mỹ bây giờ là hai nước khác nhau? Nước Mỹ bây giờ là nước Mỹ của những người ngụ cư, còn nước Mỹ của chiến tranh thế giới thứ hai là nước Mỹ đã có màu sắc dân tộc. Giới trí thức chúng tôi bây giờ rất trông đợi vào nước Mỹ vì họ không nghiên cứu về nước Mỹ thật, họ chỉ nghiên cứu nước Mỹ mà họ nghĩ trong đầu, không phải nước Mỹ tồn tại bên ngoài.
Hoàng Anh TuấnSáng nay ông Friedman có nói chuyện với sinh viên ở Đại học Quốc gia, có một cô sinh viên phát biểu, cô ấy bảo là bây giờ cô ấy cảm thấy mạnh mẽ hơn, được tiếp thêm sức mạnh về không gian kinh tế, không gian về tự do cá nhân, mà không động chạm đến không gian chính trị.
NTB: Có nhà chính trị thật sự, mà là nhà chính trị cỡ cao cấp, cỡ thứ trưởng còn bảo tôi bày cho ông ấy cách nào không động đến cải cách chính trị mà vẫn phát triển kinh tế được.
FriedmanKhông thể làm được.
NTB: Tôi nói với các anh ấy là không có cách gì. Tôi đã từng phê bình một ông bộ trưởng. Tôi bảo bây giờ các kinh nghiệm của anh không còn giá trị nữa, anh phải hướng các anh ấy đi tìm giải pháp lý thuyết. Không có giải pháp lý thuyết, không có cách gì để giải bài toán Việt Nam được.
FriedmanỞ Việt Nam không có vẻ như là có cách mạng?
NTB: Nó không có khả năng cách mạng. Cách mạng là một khả năng. Thực ra mà nói, chúng tôi giải thích về cuộc cách mạng tạo ra chế độ này không gần khoa học lắm. Chúng tôi không có năng lực cách mạng. Người ta nhầm lẫn giữa năng lực chiến tranh và năng lực cách mạng. Năng lực cách mạng cao hơn nhiều, không so sánh năng lực chiến tranh với năng lực cách mạng được.
FriedmanNếu tôi nói là các ông đã làm cho đất nước tự do chứ chưa làm cho con người tự do, ông thấy thế nào?
NTB: Cái đó thì tôi đã viết trong một bài có tên là “Cuộc giải phóng nửa vời”. Khi nào không giải phóng con người thì không có giải phóng. Nếu chúng ta không giải phóng con người, thì chúng ta chỉ thay thế nhà cầm quyền này bằng một nhà cầm quyền khác. Một nhà cầm quyền chiếm đóng nước ngoài thì dễ đánh nó, nhưng đánh đổ một nhà cầm quyền nội địa vô cùng khó. Chúng tôi không có năng lực cách mạng, chúng tôi chưa làm cuộc cách mạng nào đến đầu đến đũa. Nhiều khi dùng nhiều thời gian để nghĩ quá thì đâm ra cái gì mình cũng nhìn thấy mặt trái và nó làm mình bớt hạnh phúc đi. Tôi có hoàn cảnh rất hạnh phúc nếu tôi nghĩ vừa phải.
FriedmanTôi thấy mọi người ngồi đây nói chuyện khá là thẳng thắn, tôi ra đường cũng không cần phải tự biên tập mình nhiều lắm. Nhưng chúng ta có thể đi được đến đâu?
NTB: Tôi nghĩ là nếu riêng tư thì nói được nhiều thứ lắm. Ví dụ ở Việt Nam có một tổ chức khá bảo thủ, đó là trường Đảng, là nơi người ta dạy ra các nhà chính trị để phục vụ sự nghiệp của đảng. Họ kéo một lúc 30 giáo sư đến trao đổi với tôi, mỗi một giáo sư như vậy có thể đưa ra những ý kiến để có thể trói gô cả làng chứ không phải một phó thường dân như tôi. Nhưng tôi nói chuyện với họ rất thoải mái, thậm chí tôi nói phải phi chính trị hóa giáo dục đi. Họ bảo tôi rằng: chúng tôi là người dạy chủ nghĩa Marx-Lenin, bây giờ phi chính trị hóa giáo dục thì chúng tôi dạy ở đâu bây giờ. Có thể nói về nhiều điều, nhưng một điều cực kỳ quan trọng là khi anh nói với người ta kể cả những mặt tiêu cực nhất thì anh không được nói bằng hai giọng: xem người ta là địch, và xem người ta là thấp. Khinh người ta, và xem người ta dưới mình là điều rất cấm kỵ. Có một nhà chính trị cỡ nguyên thủ có gọi tôi đến nhà, ông ấy hỏi tôi là tôi mới viết có hai bài mà dư luận đã ầm ĩ lên, anh viết những năm quyển sách mà không ai nói gì anh, anh giải thích cho tôi. Tôi bảo tôi nói không phải với tư cách một nhà Marxist mà với tư cách một con người.
FriedmanCảm ơn ông rất nhiều. Tôi thấy buổi nói chuyện này rất thú vị!

Những bài viết của Nguyễn Trần Bạt

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

Đau, nhưng thấm !!!

Đu dây, giữ trinh và nỗi buồn giáo dục

Baron Trịnh/ Blog Baron Trịnh
1. Đã thành thông lệ, cứ mỗi dịp nghĩ lễ dài ngày thì nhu cầu đi lại của cần-lao nhiều hơn, đồng thời tai nạn giao thông (TNGT) cũng nhiều hơn.
 
Bốn ngày nghỉ lễ nhân dịp quốc khánh (30/8-2/9), cả nước đã xảy ra 186 vụ TNGT, làm chết 114 người, bị thương 145 người.

 Số liệu này không có gì đáng nói, thậm chí số vụ TNGT và số người bị thương còn thấp hơn trung bình của năm 2013 (trung bình mỗi ngày có 80 vụ TNGT, làm chết 26 người và bị thương 81 người). Điều khiến dư luận quan tâm vì liên quan đến vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng khi một xe khách giường nằm chở 53 người lao xuống vực sâu 200m và vụ TNGT trên QL5 khiến một trung tướng công an tử nạn. 

Báo chí rầm rộ ngợi ca và đưa hình ảnh bộ trưởng Thăng đu dây xuống hiện trường, thậm chí xúm tay nâng một vật nặng lên để tìm kiếm các nạn nhân. Người viết tin rằng, ông Thăng không biết trước việc báo chí viết về chuyện này, cũng không tự pi-a bản thân bằng hình ảnh này, dù thời gian qua ông đã rất thành công trong việc sử dụng truyền thông. Đồng thời, bất cứ ai có mặt ở hiện trường vào thời điểm đó cũng muốn xúm một tay vào để cứu nạn.
 
Tuy nhiên, điều đáng nói là cả ông Thăng lẫn báo chí đã cho thấy, một sự yếu kém trong tư duy lãnh đạo, một sự bất cập trong chỉ đạo liên ngành và một nền báo chí chuyên “moi móc” sự việc (nót sự kiện) để kiếm ăn. Và dĩ nhiên, những điều đó phản ánh một đất nước đang còn rất mông muội và hoang dã trong thế giới phẳng của nền văn minh nhân loại.
 
Bởi lẽ, việc lãnh đạo cao cấp có mặt ở các vụ việc là để chỉ đạo, điều hành và giải quyết vấn đề cấp bách ở hiện trường. Không riêng gì An-nam, mà ở bất cứ nơi nào trên trái đất này cũng thế. Khi có một vụ việc xảy ra và có nhiều thành phần tham gia giải quyết thì sẽ phát sinh ra sự bất cập, chồng chéo, va chạm và đùn đẩy trách nhiệm,… Vì thế cần một người có đủ quyền lực để chỉ đạo, phân công và chịu trách nhiệm chung trong giải quyết, xử lý vụ việc. Người này có quyền ra lệnh, điều khiển, phân công,… tất cả những người thuộc các lĩnh vực khác nhau đang cùng tham gia xử lý vụ việc.
 
Nhưng ở An-nam thì không được như thế. Ở một thể chế mà nhân viên ở ngành A không sợ lãnh đạo ở ngành B (tỷ dụ như vụ “tranh cãi” về xã hội đen bảo kê cho xe quá tải giữa ông Thăng và ông cục trưởng lìu tìu bên ngành công an), nên việc một ông bộ trưởng phải đu dây xuống hiện trường để chỉ đạo là việc cực chẳng đã. Nó thể hiện sự yếu kém trong hệ thống quản lý nhà nước, đôi khi cũng thể hiện sự thiếu lòng tin của lãnh đạo.
 
Một quốc gia mà TNGT cướp đi mạng sống của gần một trung đội người dân mỗi ngày, bộ trưởng phải đu dây xuống vực sâu chỉ đạo cứu hộ, trung tướng công an chết vì TNGT khi đang ngồi trên xe công vụ, thì mới thấy mạng sống của con người mong manh và rẻ rúng đến như thế nào.
 
Mạng người, còn thế, nói gì đến những thứ khác! 

2. Báo chí lá ngón lại ồn ã kéo theo việc rộn rã của dư luận cần-lao về việc một cô gái 27 tuổi tuyên bố còn trinh và cho rằng: “Người phụ nữ quá buông thả bản thân mình, luôn ngụy biện đòi bình đẳng giới bằng việc cho mình có cái quyền lên giường với thật nhiều đàn ông, với bất kì người đàn ông nào, thì tôi cho rằng đó là một người phụ nữ ngu dốt, và thiếu hiểu biết, thiếu tôn trọng giá trị của bản thân cũng như giá trị của phụ nữ nói chung”.
 
Việc cô gái này quyết giữ trinh tiết cho đến khi lấy chồng (bởi lẽ đã lấy chồng thì chắc không thể còn trinh được) là quan điểm cá nhân của cô ta, và chúng ta nên tôn trọng. Nhưng việc cô ta đánh đồng và quy chụp những người phụ nữ lên giường với nhiều đàn ông là ngu dốt, thiếu hiểu biết, thiếu tôn trọng giá trị bản thân là một nhận xét cực kỳ ngu dốt, tự ti và và hằn học cá nhân. Nói là ngu dốt bởi lẽ cô gái này hầu như không hiểu biết một chút gì về khoa học tình dục (nghiêm túc), còn nói là tự ti và hằn học cá nhân vì cô gái này có một nhan sắc gần bằng… thị Nở.
 
Sau những ồn ã tranh luận, khi bình tĩnh trở lại, người ta mới thấy lấp ló sau nó là một kiểu pi-a để bán sách. Hóa ra cô gái này in được một quyển sách có tên là “Đừng chết vì yêu”. Trời ạ!
 
Chưa dừng lại ở đó, cô gái này tiếp tục tung ra những chiêu trò như tự sự ủ ê trên Facebook rằng, tôi nói kệ tôi, tôi xấu kệ tôi, mọi người tha cho tôi kẻo mẹ tôi đau lòng lắm. Nói là như thế, nhưng không hiểu thế nào một trang mạng xã hội của giới trẻ lại tung ra một bức ảnh cực kỳ xấu với khuôn mặt mộc và áo 2 dây của cô này. Một bức ảnh mà một cô gái bình thường không bao giờ muốn chụp, và nếu chót chụp sẽ bị xóa đi ngay lập tức. Dĩ nhiên, vụ việc này không nằm ngoài mục đích pi-a nói trên.
 
Không biết cô này bán được bao nhiêu sách sau khi gây scandal nói trên? Nhưng theo đánh giá của người viết, chính cô ta đã gây một hiệu ứng ngược (mặc dù cô ta nói rằng đã có dăm năm làm trong lĩnh vực truyền thông) và cô ta hoàn toàn thất bại. Bởi lẽ, không ai dở hơi đến mức đi nghe một cô gái 27 tuổi còn trinh xấu gần bằng thị Nở đi dạy người khác yêu là như thế nào cả. Vì nói nhẹ thì không có kiểu trứng mà lại khôn hơn vịt, còn nói nặng thì ai lại đi dạy đĩ vén váy bao giờ.
 
Chữ nghĩa mạt đến mức phải dùng đến cái màng trinh bằng đầu ngón tay lẫn gây sốc dư luận bằng cách miệt thị xu hướng chung của xã hội để bán, thì đó là loại chữ nghĩa la liếm, bần tiện và thiếu nhân cách.
 
Thời mạt của chữ nghĩa xứ An-nam, chỉ thế.
 
3. Liên quan đến vụ thanh niên Nguyễn Hoàng Anh (tức cậu bé Hào Anh bị bạo hành mấy năm trước) đuổi bố mẹ ra khỏi ngôi nhà của cậu ta, được xây nhờ vào tiền từ thiện của các nhà hảo tâm sau vụ bạo hành đã tốn nhiều giấy mực của báo chí. Hàng loạt báo chí lá ngón lao vào la liếm kiếm vài đồng tiền lẻ khi đẩy sự việc lên đến cao trào của những “tâm thư”, “ăn năn” và “hối hận”.
 
Sẽ không có điều gì đáng nói nếu không có những “nhà” đạo đức giả, “nhà” hảo tâm giả chém gió trên dư luận. Bản chất xã hội An-nam bộc lộ rõ nhất trong những vụ việc như thế này. Những vụ việc mà liên quan đến vấn đề đạo đức, tình người, nhân đạo, giáo dục và truyền thông.
 
Vụ việc cũng có thể được xem là một ví dụ điển hình của cái gọi là bần nông chân đất mắt toét trong một ngày đẹp giời, vươn vai trở thành ông chủ. Khi thực chất “ông chủ” này chưa có một cái gì của riêng mình cả. Từ nhận thức, tiền bạc đến nhân cách sống. Nó na na như xã hội An-nam hiện tại.
 
Lâu nay chúng ta vẫn nói, thương người nên cho cái cần câu, chứ không phải cho con cá. Đáng lý ra đối với một đứa trẻ bị tổn thương cả về thể xác lẫn tâm hồn. Điều cần làm là giáo dục lại nhân cách, và đào tạo một nghề nghiệp để sau này có thể kiếm tiền bằng mồ hôi và chất xám một cách lương thiện. Chứ không phải là bù đắp bằng cách cho một mái nhà, cho một ít tiền để mua thức ăn, cho một sự chia sẻ, cảm thông của dư luận của một xã hội đa phần đạo đức giả.
 
Chỉ có giáo dục mới làm thay đổi nhận thức và bản chất của con người. Ấy vậy mà đại đồng cần-lao lại quay lưng lại với điều đó. Có nghĩa, cáo chết ba năm lại quay đầu về núi mà thôi.
 
Mà sự la liếm của báo chí lá ngón, lại là kẻ thù của đạo đức và giáo dục.
 
4. Những vụ việc nổi đình đám trong thời gian qua liên quan đến ngành giáo dục như vụ mua bằng tiến sĩ với giá 200 triệu; hay Đề án SGK điện tử “sặc mùi tiền, thiếu tình người” với trị giá 4.000 tỷ đồng, liên quan đến đơn vị tư vấn AIC và những chiếc máy tính bảng nguồn gốc từ Đài Loan; hay ông bộ trưởng Luận và các lãnh đạo ngành giáo dục bận rộn đến các địa phương, các trường ĐH, CĐ để truyền bá cái “triết lý giáo dục” là Nghị quyết 29/NQ-TW;… đã đang dần dần trôi vào quên lãng. Một sự im lặng có đồng lõa của báo chí và những cơ quan, cá nhân có trách nhiệm, y như vụ việc công ty AIC bán lò đốt rác thải y tế hồi năm ngoái.
 
Quan chức liên quan thì trốn tránh trách nhiệm, không liên quan thì ngậm miệng ăn tiền. Doanh nghiệp nhúng chàm thì im lặng xóa dấu vết một cách mờ ám. Báo chí một bộ phận chót “há miệng” sợ “mắc quai”, một bộ phận chắc không được chấm mút gì thì đi tìm các sự kiện khác để kiếm mấy đồng tiền lẻ.
 
Các vụ việc này cũng như hàng nghìn, hàng triệu vụ việc khác đang xảy ra hàng ngày, hàng giờ ở xứ An-nam. Có điều, nó liên quan đến giáo dục. Có nghĩa là nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai con em chúng ta, ảnh hưởng đến tương lai dân tộc. Đến hẹn lại lên, ngày 5/9 là ngày khai giảng của các trường học trên cả nước. Báo chí, truyền hình đua nhau đưa tin về các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước dự lễ khai giảng, đánh trống khai trường ở những ngôi trường có bề dày truyền thống, những ngôi trường vừa được dựng xây có giá trị hàng trăm tỷ đồng.
 
Những khuôn mặt ngơ ngác của các cháu lần đầu đến trường, những cái ngáp dài mệt mỏi của các cháu học sinh cấp một khi nghe các đại biểu “đặc biệt” bi bô những điều sáo rỗng cả tiếng đồng hồ, những tiếng thì thào chán nản của các học sinh cuối cấp khi chưa biết Bộ GD&ĐT chọn phương án thi nào,… Và đâu đó trên khắp đất nước cong queo như con giun đang quằn quại này, những tiếng thở dài trong đêm, những ước muốn bán thêm được mớ rau, tấm vé số,… để có đủ tiền đóng góp đầu năm học cho con cái.
 
Giáo dục An-nam, luôn sặc mùi tiền, sặc mùi thành tích nhưng mờ nhạt tính giáo dục và tình người!
 
5. Ở một nơi, rất xa. Nơi không có những đề án nghìn tỷ “sặc mùi tiền, thiếu tình người”; Nơi không có việc chạy trường, chạy lớp “nghìn đô”; Nơi không có “quảng cáo dạy kèm” sau giờ học nhét vào cặp học sinh; Nơi không có những hô hào quyết tâm “chạy” thành tích ảo; Nơi không có trong tư duy của những nhà quản lý, những chuyên gia đang bi bô "những điều tối nghĩa" trong phòng lạnh về cải cách giáo dục; Nơi không cần đến đề án đổi mới sách giáo khoa hàng chục nghìn tỷ đồng; Nơi không cần “cây đũa thần” triết lý giáo dục của bộ trưởng Luận;…
 
Ở một nơi, rất xa. Nơi không có cờ quạt, băng rôn, biểu ngữ; Nơi không có những lẵng hoa; Nơi không có đồng phục cho học sinh; Nơi không có lễ đài, sân khấu, âm thanh; Nơi không có lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước đến dự lễ khai giảng và đánh trống khai trường; Nơi thậm chí không có cả những chiếc ghế nhựa cho các em nhỏ ngồi trên nền đất ẩm ướt;…
 
Ở nơi đó, vẫn có một lễ khai giảng.


Theo blog  Baron Trịnh
Nguồn hình ảnh: Sưu tầm trên Internet.

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Một bài viết hơi dài nhưng rất đáng đọc

Quốc hội đã bị tiếm quyền?

Ls Ngô Ngọc Trai/BBC
Ảnh bên: Quốc hội quy định trong Hiến pháp 1992 rằng mình là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
Hiến pháp 2013 có hai điểm thụt lùi cho thấy trong một thời gian dài Quốc hội đã yếu kém để cho Chính phủ lấn quyền. Và nay người ta sửa đổi hiến pháp cho phù hợp với thực tế, một cách để hợp thức việc làm sai trước đó.

Ai được quyền lập pháp?
Hiến pháp 2013 sửa bỏ đi nội dung Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, thay vào đó viết rằng Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp.
Lý giải đưa ra là việc lập hiến có cả sự tham gia của người dân cho nên nói chỉ duy nhất Quốc hội thực hiện quyền lập hiến là không đúng do vậy bỏ đi từ duy nhất.
Nhưng đó là bao biện nhằm che dấu đi thực tế rằng cái quy định quốc hội là cơ quan duy nhất được quyền lập pháp kia đã bị xâm phạm một cách thô bạo suốt 20 năm qua.
Thật khó hiểu là quốc hội đã tự mâu thuẫn trong một vấn đề lớn, lớn nhất xét ở góc độ vai trò chức năng của quốc hội bởi đó là vấn đề lập pháp.
Một mặt Quốc hội quy định trong Hiến pháp 1992 rằng mình là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.
Mặt khác, cũng chính Quốc hội ban hành ra Luật Ban hành Văn bản Quy phạm Pháp luật quy định một loạt chủ thể được quyền quy định luật.
Từ đó dẫn đến cơ quan hành pháp cũng thực hiện quyền lập pháp, 20 năm qua có không biết bao nhiêu nghị định thông tư ra đời và ngần đó lần đã có sự vi hiến.
Nay để phù hợp với thực tế hiến pháp đã bỏ đi nội dung Quốc hội là cơ quan duy nhất thực hiện quyền lập pháp.
Không chỉ vậy Hiến pháp còn bổ sung quy định tại Điều 100 rằng: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình.
Tức là hiến định quyền ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ.
Cũng tức là bẻ quẹo đi cả những nguyên lý cứng nhất về tổ chức bộ máy nhà nước.
Nước ngoài quy định thế nào?
Để rõ hơn vấn đề này có thể đối chiếu với quy định của hiến pháp hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc.
Hiến pháp Hàn Quốc quy định rằng quyền lập pháp được trao cho Quốc hội giống như Hiến pháp Việt Nam 2013. Song Hiến pháp Nhật Bản xác quyết rõ hơn khi viết rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất và là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, giống như Hiến pháp Việt Nam 1992.
Hiến pháp hai nước đều cho phép chính phủ được ban hành văn bản để thi hành luật, tên gọi có thể là sắc lệnh hay nghị định. Nhưng các văn bản này có giá trị pháp lý yếu hơn luật và đều có thể bị phán quyết chế tài bởi một cơ quan tòa án về tính hợp hiến và hợp pháp.
Ảnh bên:"Đúng ra Hiến pháp cần giữ nguyên quy định quyền lập pháp chỉ duy nhất thuộc về quốc hội, chấm dứt tình trạng cơ quan hành pháp được quyền lập pháp. Nhưng rồi Hiến pháp lại chỉnh theo hướng cho phép cơ quan hành pháp được ban hành văn bản pháp luật để hợp thức những việc làm vi hiến trước đây."
Trong khi đó ở Việt Nam, nghị định và thông tư được xếp cùng chủng loại là văn bản quy phạm pháp luật giống như Hiến pháp và luật, cùng có hiệu lực bắt buộc thi hành và không được khiếu nại hay khởi kiện.
Ở Việt Nam chưa có tòa án hiến pháp đã đành, nhưng tòa án hành chính hiện cũng không có thẩm quyền xử lý những nghị định thông tư có nội dung trái luật.
Như thế là khác nhau về bản chất giữa các văn bản do cơ quan hành pháp Hàn Quốc và Nhật Bản ban hành so với Việt Nam.
Thực chất thì văn bản của cơ quan hành pháp Việt Nam có tính chất pháp lý đúng như luật không có gì khác.
Thực tế có những văn bản của chính phủ có nội dung trái luật nhưng người dân và doanh nghiệp không được khiếu nại hay khởi kiện bồi thường.
Đứng trước vấn đề như thế, đúng ra Hiến pháp cần giữ nguyên quy định quyền lập pháp chỉ duy nhất thuộc về quốc hội, chấm dứt tình trạng cơ quan hành pháp được quyền lập pháp.
Nhưng rồi Hiến pháp lại chỉnh theo hướng cho phép cơ quan hành pháp được ban hành văn bản pháp luật để hợp thức những việc làm vi hiến trước đây.
Điều đó cho thấy Quốc hội đã lệch lạc về vai trò chức năng, đã thối lui và chối bỏ trách nhiệm trên trận tuyến của mình.
Ai quyết định ngân sách?
Vấn đề chi tiêu ngân sách Hiến pháp Hàn Quốc quy định rằng Quốc hội nắm quyền quyết định về ngân sách quốc gia. Hàng năm cơ quan hành pháp soạn thảo dự luật ngân sách quốc gia bao gồm các khoản chi tiêu, đệ trình lên Quốc hội trong thời hạn 90 ngày trước ngày bắt đầu năm tài chính mới. Quốc hội có trách nhiệm phê chuẩn dự luật ngân sách trong thời hạn 30 ngày trước ngày bắt đầu năm tài chính mới.
Hiến pháp Nhật Bản cũng quy định Chính phủ lập dự toán ngân sách trình quốc hội quyết định, và không thể rõ ràng hơn hiến pháp nước này đã quy định: không một khoản tiền nào được chi cho dù Chính phủ có yêu cầu trừ khi được Quốc hội cho phép.
Cũng cần hiểu rằng sự cho phép ở đây có thể trước hoặc sau khi đã chi. Thực tế trong hoạt động của chính phủ thì ngoài các khoản chi cố định hàng năm đã lập dự toán như chi như trả lương cho bộ máy, viện trợ nước ngoài… thì vẫn có những việc đột xuất cần chi tiêu mà trước đó không có trong dự định.
Trong trường hợp đó hiến pháp Nhật Bản và Hàn Quốc đều quy định về một quỹ dự trữ để chi tiêu cho những trường hợp đột xuất. Chính phủ được tự quyết việc chi tiêu và tính đúng đắn hợp lý của nó sẽ được quốc hội xem xét đánh giá ở lần họp gần nhất.
Từng khoản chi tiêu sẽ phải báo cáo giải trình, nếu việc chi tiêu không hợp lý thì chính phủ sẽ bị mất tín nhiệm, bị điều tra hoặc bỏ phiếu bất tín nhiệm buộc phải từ chức.
Đó là những biện pháp để đảm bảo rằng việc chi tiêu của chính phủ có giới hạn và không ngoài những mục đích chính đáng.
Ở việt Nam thì sao?
Hiến pháp Việt Nam xưa nay cũng quy định Chính phủ lập dự toán ngân sách quốc gia trình Quốc hội quyết định, và các khoản chi ngoài dự toán cũng đều phải giải trình báo cáo.
Nhưng do thành phần đại biểu Quốc hội gồm nhiều người bên hành pháp kiêm nhiệm cho nên tuy nói Quốc hội quyết định nhưng ảnh hưởng của Chính phủ là quá lớn.
Liên tục nhiều năm Chính phủ chi vượt quá dự toán ngân sách, vượt quá cả con số vượt quá đã lường tính. Ví như bội chi ngân sách năm 2013 là 5,3% GDP tính ra khoảng gần 200.000 tỷ đồng vượt quá con số bội chi đã dự định chỉ là 4,8% GDP.
Đại biểu Quốc hội đã không mạnh mẽ trong yêu cầu giải trình và đánh giá tính hợp lý chính đáng của các khoản chi, không đeo bám giám sát để thấy được kết quả cuối cùng của việc chi tiêu ngân sách.
Vai trò giám sát yếu ớt dẫn đến tình trạng thất thoát tham nhũng lãng phí.
Và khi Chính phủ được quyết việc chi tiêu và việc nào cũng có thể đưa ra được lý do bao biện cho nên chính phủ trở thành nơi phân phát bổng lộc ngân sách quốc gia khiến cho khắp các tổ chức doanh nghiệp hội đoàn bu bám vào đó.
Chính sách tài chính tiền tệ?
Xét kỹ thì thấy Hiến pháp Việt Nam có một vấn đề đặc thù mà không thấy hiến pháp Hàn Quốc hay Nhật Bản nói đến, đó là ‘chính sách tài chính tiền tệ quốc gia’.
Hiến pháp 1992 quy định Quốc hội nắm quyền quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia còn Chính phủ giữ vai trò thực hiện. Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ cũng đều quy định như thế.
Nhưng Hiến pháp 2013 đã biến tấu khi viết rằng Quốc hội quyết định chính sách “cơ bản” về tài chính tiền tệ quốc gia, thêm vào hai từ “cơ bản” và không thấy nói gì đến ai được quyết định cái “không cơ bản” còn lại.
Cơ quan nào đã có ý gì khi đưa vào từ “cơ bản” này?

Hiến pháp 1992 quy định Quốc hội nắm quyền quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia nhưng Ngân hàng Nhà nước trên thực tế là cơ quan ra các quyết định này
Để biết được thì hãy hỏi bao nhiêu năm qua Quốc hội có nắm quyền quyết định về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia không? Các vấn đề như điều chỉnh lãi xuất tiền gửi ngân hàng, phát hành trái phiếu chính phủ có phải là chính sách tài chính tiền tệ quốc gia không, lâu nay ai quyết định?
Khoản tài chính 30 nghìn tỷ cứu trợ thị trường bất động sản có phải là chính sách tài chính tiền tệ quốc gia không và ai quyết định?
Việc cho phép độc quyền sản xuất vàng miếng SJC hay cấm nhập khẩu vàng miếng có phải là quyết định về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia không?
Nếu có thì Ngân hàng Nhà nước đã tự ý quyết định chính sách này thay vì Quốc hội.
Có lẽ đã mơ hồ nhận ra vấn đề bị tiếm quyền cho nên Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh, đoàn thành phố Hà Nội đã đặt câu hỏi liệu Ngân hàng Nhà nước có vi phạm Hiến pháp và pháp luật?
Hay việc Chính phủ bảo lãnh khoản vay 750 triệu USD cho tập đoàn Vinashin có phải là một quyết định về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia không?
Nếu câu trả lời là có thì rõ ràng lâu nay Quốc hội đã buông lơi thẩm quyền mà Hiến pháp đã trao cho và Chính phủ đã vượt quá thẩm quyền theo Hiến pháp và pháp luật.
Vấn đề của thị Trường?
Hiến pháp Nhật Bản, Hàn Quốc không có nội dung về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia phải chăng bên đó họ cho rằng nó thuộc thẩm quyền của thị trường?
Nhưng ở Việt Nam yếu tố thị trường còn chưa được tôn trọng và Chính phủ lại có cái quyền quản lý điều hành nền kinh tế cho nên nhiều vấn đề thay vì thuộc quyền của thị trường thì nó lại bị Chính phủ điều chỉnh.
Ngân hàng Nhà nước thay vì là một thiết chế độc lập vận hành theo nguyên lý trường, sử dụng các thông số dữ liệu của thị trường mà sự thành công của nền kinh tế là thước đo hiệu quả cuối cùng, thì nó lại là công cụ trong thay Chính phủ để tác động vào nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại lại chịu sự chi phối về chính sách của Ngân hàng Nhà nước cho nên giới ngân hàng nói chung chịu sự chi phối theo đường lối của Chính phủ.
Không chỉ thế, ở Việt Nam còn có một công cụ kinh tế tài chính rất mạnh là các doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ nắm quyền, các kế hoạch sản xuất kinh doanh hay việc bổ nhiệm nhân sự đều do Chính phủ quyết định.
Từ đó dẫn đến Chính phủ trở thành một trung tâm quyền lực kinh tế lớn mạnh mà đến Đảng hiện nay cũng không kiểm soát nổi.
Nhưng trong đà hoạt động không bị kiểm soát và như trên đã phân tích, một số chính sách của Chính phủ xem ra đã vượt quá thẩm quyền được quy định theo Hiến pháp và pháp luật về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, tức là có dấu hiệu của việc cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, một luật sư từ Hà Nội.
Theo BBC

------------------------------------------------
Về đề tài Quốc hội VN, TS Hoàng Xuân Phú trên Blog của mình có viết liền 4 bài . Nhà văn Nguyễn Quang Lập ( Bọ Lập) nhận xét : ( Đây là những ) bài viết về Hiến pháp 2013 ... Rất dài. Bà con có thể bỏ qua ngay để đi ngủ, hoặc thức đến hai giờ sáng để đọc nó một cách chậm rãi và kĩ lưỡng rồi thao thức cho đến sáng mai.... Bảo đảm bà con sẽ không tiếc một đêm thức trắng. "Mở xem tại đây

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Kỹ năng giao tiếp cho chính khách VN?

Calathau - Đọc bài này thấy "nóng mặt" ! Tác giả chê cả bố mình chắc !? Nhưng, ngoại trừ một vài từ có vẻ xách mé ( như gọi Bác là ông cụ Hồ ...), thì về nội dung, cơ bản là ...không sai . Hãy bình tĩnh mà nghe người ta nói về những điểm xấu, điểm kém cỏi của mình đặng sửa đổi mà tiến lên " sánh vai bằng các cường quốc 5 châu", các cụ nhỉ !

Gs Nguyễn Văn Tuấn/ FB Nguyen Tuan
Quan sát các vị đi sứ và các vị chính khách ở VN ra nước ngoài tôi có cảm tưởng họ thiếu một kĩ năng quan trọng mà tiếng Anh gọi là communication skills. Tôi chưa biết dịch chữ này sang tiếng Việt như thế nào, nhưng theo cách hiểu bằng tiếng Anh, “communication skills” không chỉ đơn giản là nói và viết mà còn kĩ năng biện luận. Các chính khách VN hình như thiếu kĩ năng tranh luận và hùng biện.
Không biết ngoài xã hội thì sao, nhưng tôi thấy cư dân mạng bàn tán khá nhiều về chuyến đi của ngài đặc phái viên Lê Hồng Anh sang Tàu. Không phải bàn về nội dung thảo luận trong chuyến thăm, nhưng về hành động ông cầm tờ giấy đọc trong buổi tiếp kiến với Tập Cận Bình. Thật ra, nhìn kĩ thì sẽ thấy ngài đặc phái viên còn có một sấp giấy để một bên ghế salon. Phải nói rằng trong cái bầu không khí khá thân mật, mà ông cầm tờ giấy đọc thì bầu không khí trở nên trang nghiêm. Ngay cả hành vi đọc tự nó làm cho khán giả nghĩ đến các sứ đọc sớ trước thiên tử là kẻ đang ngồi nghe. Nó làm cho người nghe không còn muốn tranh luận hay trao đổi cái gì, bởi vì người đang ngồi đối diện chỉ là người đọc những gì do ai viết ra chứ không phải của chính anh ta. Nếu thế thì mình nên nói chuyện với tác giả chứ đâu cần nói chuyện với người đưa tin. Nói gì thì nói, hành động đọc đó không đẹp chút nào. 
Nói chung, các chính khách VN đều như ngài đặc phái viên, tức là họ thường cầm giấy đọc khi tiếp kiến với đối tác ở nước ngoài. Khi ông Phạm Quang Nghị sang thăm Mĩ, ngoài món quà đầy tai tiếng, chúng ta cũng thấy ông cầm theo một tờ giấy trắng, chắc ghi chép những gì cần phải nói. Trước đó, cựu thủ tướng Phan Văn Khải khi sang thăm Mĩ cũng cầm giấy đọc khi tiếp kiến đối tác ở Nhà Trắng. Cái “truyền thống” cầm giấy đọc chắc là khà xa xưa. Tôi nhớ có xem một video clip đâu đó khi ông cụ Hồ trả lời một phỏng vấn, ông cũng cầm giấy đọc. Ngay cả trong nước, Bộ trưởng GDĐT cũng cầm giấy đọc, mà hình như có khán giả phát hiện ông đọc nhầm một chỗ!
Tôi không biết các bạn thì sao, chứ với tôi đi dự một hội nghị hay một buổi tiếp xúc mà “diễn viên chính” cứ cậm cụi đọc tờ giấy nó rất chán. Chẳng những chán mà còn khó chịu và xúc phạm. Khi người ta cầm tờ giấy đọc, người ta không chú ý đến mình là khán giả, và thế là gây ra một khoảng cách tinh thần giữa người đọc và người nghe. Hành vi đọc còn có thể diễn giải như là một cách xem thường khán giả vì người đó chẳng quan tâm đến truyền đạt thông tin nữa, và thế là khán giả cảm thấy mất thì giờ để tham dự buổi họp. Khi người cầm giấy đọc thì lúc đó anh chị ta đã tự biến mình thành một reader [người đọc] chứ không phải là một speaker [người thuyết trình], và như thế thì người đó đã đánh mất vai trò của mình. 
Chuyện ngài đặc sứ cầm giấy đọc làm tôi nhớ đến một kinh nghiệm cá nhân thời xa xưa. Nhớ lần đầu tôi đi trình bày về một nghiên cứu quan trọng trong một hội nghị có đến 5000 người tham dự ở Mĩ, thầy tôi rất quan tâm. Vì biết thầy quan tâm, nên tôi chuẩn bị sẵn một tờ giấy mà tôi soạn ra tất cả những câu nói, kể cả câu mở đầu ra sao. Trước ngày lên podium, ông ghé qua phòng khách sạn tôi và bắt buộc tôi phải nói cho ổng nghe. Tôi loay hoay lấy tờ giấy và mới cầm lên chưa kịp đọc, ổng hỏi “Mày làm gì vậy?” Tôi nói tỉnh queo là … tôi nói. Ổng đùng đùng nổi giận nói: “Ngày mai, mày mà cầm tờ giấy đó đọc, thì tao sẽ giết mày, nghe chưa con!” (Cách nói “I will kill you” là cách nói cho vui, chứ có giết chóc ai). Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao mấy người khác đọc slide đó, có sao đâu, tôi không rành tiếng Anh thì tôi cũng đọc. Ổng giải thích ai đọc thì … “kệ cha” nó, nhưng mày là trò của tao, mày đến từ Viện Garvan, mày phải có đẳng cấp, chứ đừng bắt chước cái đám linh tinh đó. Ông bồi thêm: mày đọc như thế là tao mất mặt, mà khán giả còn nghĩ rằng mày chỉ là cái máy, chứ chẳng biết gì cả. Ông giảng một hồi, rồi nói “thôi được, mày cứ học thuộc lòng cái mày viết và nói như mày đã viết, nhưng khi lên podium mày không được cầm giấy”. Từ cái kinh nghiệm trên, sau này tôi hướng dẫn nghiên cứu sinh tôi đều nhắc là không được cầm giấy nói, mà phải nói như là một người đang thuyết trình. 
Tôi có cảm tưởng là các vị chính khách VN cộng sản kém kĩ năng thông tin hơn các chính khách cộng hoà. Nhìn qua cách trả lời phóng viên nước ngoài của các chính khách VN thời nay tôi thấy họ có vẻ không tự nhiên, không thoải mái, còn ngoại ngữ thì có phần kém hay quá kém. Nhìn cái ‘body language’ (ngôn ngữ cơ thể) chúng ta thấy họ có vẻ như đang chịu một cực hình. Ngay cả ông cụ Hồ là người lão luyện mà khi trả lời phỏng vấn của kí giả Pháp ông có lúc lúng túng. Nhưng nhìn qua cách trả lời phỏng vấn của các nhân vật như cựu TT Nguyễn Văn Thiệu, cựu phó TT Nguyễn Cao Kỳ, ông Hoàng Đức Nhã, v.v. chúng ta thấy họ nói chuyện với phóng viên nước ngoài rất thoải mái, tiếng Anh và tiếng Pháp lưu loát, và họ xuất hiện một cách tự tin về những gì họ phát biểu. Họ có vẻ biết “luật chơi” và văn hoá phương Tây nên thỉnh thoảng còn chơi chữ với phóng viên. 
Tôi nghĩ một phần của sự khác biệt giữa chính khách ngày nay và thời VNCH là trình độ học vấn. Thời đó, các vị ấy đều học đàng hoàng, thi cử nghiêm chỉnh, chứ không phải bát nháo như hiện nay. Do đó, các chính khách VNCH đều là những người có thực học, từng xuất dương du học, đã học ngoại ngữ từ lúc ở VN, và khi ra ngoài học một thời gian họ có thể giỏi ngoại ngữ gần như người bản xứ. Còn ngày nay, dù các chính khách có rất nhiều người có bằng tiến sĩ và ngoại ngữ nhưng chẳng ai biết thực học của họ ra sao, chỉ đến khi tiếp xúc với người nước ngoài thì sự thật mới hiện ra. 
Một phần khác nữa tôi nghĩ có thể là do “tổ chức”. Chính khách VN trước khi ra ngoài họp chắc chắn đã được dặn phải nói cái gì và không nên nói cái gì. Do đó, cho dù họ có chính kiến, họ cũng không dám bước ra khỏi cái hộp của tổ chức vì trên đầu họ còn lơ lửng cái vòng kim cô ý thức hệ. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong các hội nghị quốc tế, các chính khách VN rất ít nói, trong khi đó chính khách các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai và Phi Luật Tân thì họ nói như … két. Kể ra sự tiết kiệm lời nói như thế cũng gây ảnh hưởng đến hình ảnh của đất nước và con người VN. VN hay nói đến “hội nhập quốc tế”, nhưng trong thực tế thì các chính khách và quan chức chưa thể hiện sự hội nhập quốc tế chút nào. 
Tôi nghĩ một phần khác có lẽ là do giáo dục. Chúng ta lớn lên với nền giáo dục nửa phong kiến, nửa hiện đại. Học trò không được khuyến khích có chính kiến riêng và không được học kĩ năng tranh luận. Rồi khi lớn lên một số bị cái guồng máy đoàn – đảng nhào nặn thành một con người khác chứ không phải là chính mình nữa. Nói cái gì cũng phải theo lập trường chính trị, chủ trương tập thể, và cái cá nhân bị đè bẹp trong môi trường đó. Ngược lại, một trong những kĩ năng quan trọng mà hệ thống giáo dục ở các nước phương Tây như Mĩ và Úc rất quan tâm là rèn luyện kĩ năng communication và khuyến khích có chính kiến riêng. Học trò tiểu học đã được khuyến khích tranh luận các vấn đề xã hội. Có trường sáng tạo bằng cách chia lớp học ra hai đảng, một đảng cầm quyền và một đảng đối lập, và học trò giả bộ làm đại biểu hai bên để tranh luận về một vấn đề thời sự. Đến khi lên trung học và đại học, các em đã quen với phát biểu chính kiến, và cảm thấy thoải mái với thói quen đó. Do đó, khi trưởng thành họ đã quá quen với văn hoá tranh luận.
Tôi nghĩ các chính khách VN rất cần kĩ năng communication, kể cả kĩ năng nói và thuyết phục đối tác. Họ cần phải học chứ không thể tự nhiên mà có được. Nhưng không phải học từ Bộ Ngoại giao vì chính những người trong Bộ Ngoại giao cũng có vấn đề về kĩ năng communication. Họ nên học kĩ năng communication từ các chuyên gia từ phương Tây, đặc biệt là Mĩ. Chỉ khi nào các chính khách xuất hiện trong hội họp nước ngoài không còn cầm tờ giấy thì lúc đó công chúng mới an tâm.

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

Báo Trung Quốc viết về chuyến đi BK của đặc phái viên Lê Hồng Anh

习近平:中越应回正确发展轨道传统友谊值得
珍惜

 Nguyên Hải dịch và giới thiệu

Dưới đầu đề « Tập Cận Bình : Trung Quốc, Việt Nam nên trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn, mối tình hữu nghị truyền thống đáng được quý trọng » , Nhân dân Nhật báo Trung Quốc ngày 27/8/2014 đăng bản tin của Tân Hoa Xã nói về cuộc gặp giữa ông Lê Hồng Anh với Chủ tịch Tập Cận Bình, toàn văn như sau:
Ngày 27 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Chủ tịch nhà nướcTrung Quốc Tập Cận Bình đã hội kiến với đặc phái viên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.
Lê Hồng Anh đã chuyển lời nhắn (nguyên văn khẩu tín) của Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Nhà nước Việt Nam Trương Tấn Sang gửi Tập Cận Bình.
Tập Cận Bình nói : Trung Quốc, Việt Nam là láng giềng gần, lại đều là quốc gia xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo. Láng giềng gần thì khôngthể dọn đi đâu được, (quan hệ) hữu hảo phù hợp với lợi ích chung của hai bên. Mấy năm gần đây, mối quan hệ giữa hai nướcvề tổng thể phát triểntốt, nhưnggần đây bị xói mòn (nguyên văn xung kích) rất lớn, gây ra sự quan tâm cao độ của nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế. Tổng Bí thư NguyễnPhú Trọng cử đồng chí làm đặc phái viên đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện nguyện vọng phía Việt Nam muốn cải thiện và phát triển mối quan hệ hai nước. Tôi coi trọng lời nhắn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trương Tấn Sang, mong muốn phía Việt Nam và phía Trung Quốc cùng cố gắng  làm cho mối quan hệ Trung-Việt trở lại quỹ đạo phát triển đúng đắn.
Tập Cận Bình nhấn mạnh, cấp cao hai đảng Trung Quốc và Việt Nam nên nắm đại cục, duy trì và tăng cường giao lưu, kịp thời đi sâu trao đổi, kiên trì từ tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài dẫn dắt mối quan hệ Trung-Việt, đặc biệt vào thời điểm quan trọngcó sự quyết đoán chính trị đúng đắn. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nắm phương châm ổn địnhlâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện, củng cố tốt, phát triểntốt mối quan hệ hai đảng hai nước.
Tập Cận Bình nhấn mạnh, tình hữu nghị truyền thống Trung Quốc-Việt Nam là do nhữngngười lãnh đạothế hệ trước của hai đảng hai nướctự tay xây dựng và hết lòng vun đắp nên, đáng đượcquý trọng và gìn giữ gấp bội. Hàng xóm với nhau khó tránh đượcva chạm, điều quan trọng là dùng thái độ và phương thức như thế nào để đối xử và giải quyết. Hai phía Trung Quốc, Việt Nam cần kiên trì xuất phát từ đại cục giữ gìn tìnhhữu nghị Trung-Việtvà mối quan hệ Trung-Việt, loại bỏ các can nhiễu, giải quyết ổn thỏa các vấn đề liên quan, đặc biệtlà kiên trì dẫn dắt dư luận đúng hướng, vun đắp, giữ gìn tình cảm hữu hảo giữa nhân dân hai nước. Trongcuộc hội đàm với đồng chí hôm nay, đồng chí Lưu Vân Sơn đã trình bày toàn diện lập trườngcủa Đảng và Chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ Trung-Việt. Hai bên cần phảiquán triệt vào thực tế nhận thức chung và thành quả cuộc gặp cấp cao hai Đảng lần này, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việtthiết thực đượccải thiện và phát triển.
Lê Hồng Anh tỏ ý : tôi sẽ báo cáo trung thực và đầy đủ với Đảng và Chính phủ Việt Nam lời của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Phía Việt Nam sẵn lòng cố gắng hết sức cùng với phía Trung Quốc duy trì giao lưu cấp cao, tiến hành trao đổi chân thành, tăng cường hiểu biết và tín nhiệm lẫn nhau, tăng cường đoàn kết hợp tác, giải quyết ổn thỏa các vấn đề, cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng hai nướckhôngngừng đượccủng cố và phát triển ; điều đó phù hợp lợi ích căn bản và lâu dài của hai nướcvà của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình, ổn địnhvà phồn vinh của khu vực. Sáng nay tôi đã cùng đồng chí Lưu Vân Sơn tiến hành hội đàm thẳng thắn chân thành và hữu hảo, đạt đượcsự nhận thức chung quan trọng. Phía Việt Nam mong muốn thực hiện tốt nhữngnhận thức chung đó, thúc đẩy việc cải thiện và phát triển mối quan hệ hai Đảng, hai nước.
Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì, Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia buổi hội kiến. 

Về cuộc gặp Lê Hồng Anh - Lưu Vân Sơn, Tân Hoa Xã Trung Quốc ngày 27/8 đưa tin như sau (toàn văn) :
Sáng ngày 27/8/2014 tại Đại Lễ đường Nhân dân, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Lưu Vân Sơn đã hội đàm với đặc phái viên của Tổng bí thư ĐCSVN, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bí thư thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.
Lưu Vân Sơn nói, Trung Quốc, Việt Nam đều là quốc giaxã hội chủ nghĩado đảng cộng sản lãnh đạo, mối quan hệ giữa hai nướcmấy năm gần đây về tổng thể giữ được xu thế phát triển ; sự giao lưu hợp tác trên các lĩnh vực quan hệ đảng, ngoại giao, kinh tế thương mại, nhân văn đượctriển khai rộng rãi, đem lại nhữnglợi ích thực sự cho nhân dân hai nước.
Lưu Vân Sơn vạch ra : trong thời kỳ trước đây, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam có một dạo xuất hiện cục diện căng thẳng, đây là điều chúng tôi khôngmuốn thấy. Vào lúc mối quan hệ Trung -Việt gặp khó khăn,ĐCSVN cử đặc phái viên của Tổng Bí thư đếnTrung Quốc tiến hành gặp gỡ cấp cao hai đảng, điều đó thể hiện ý nguyện chính trị tích cực thúc đẩy sự cải thiện, phát triểnmối quan hệ Trung -Việtcủa Đảng và Chính phủ Việt Nam. Mong rằng phía Việt Nam tiếp tục cùng phía Trung Quốc cố gắng thúc đẩy mối quan hệ Trung -Việttrở lại quỹ đạo phát triểnôn địnhlành mạnh. Lưu Vân Sơn nhấn mạnh Trung Quốc, Việt Nam cần qua hợp tác mà giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì đàm phán song phương và hiệp thương hữu hảo, thiết thực quản lý kiểm soát tốt tình hình trênbiển, thực sự làm đượcviệc cùng nhau khai thác, mở ra cục diện mới Trung Quốc-Việt Nam hợp tác chiến lược toàn diện.
Lê Hồng Anh nói, lãnh đạoĐảng và Nhà nướcViệt Nam coi trọng mối quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc, đặt nó ở vị trí ưu tiên trongchính sách ngoại giao. Trước sau coi trọng tình hữu hảo truyền thống với phía Trung Quốc, trước sau chân thành mong mỏi thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nướclà phương châm nhất quán và chiến lược lâu dài của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, thúc đẩy hợp tác, giải quyết bất đồng, làm cho hai nướcdốc sức vào sự nghiệp của mỗi nước, là điều quan trọng so với bất cứ thời kỳ nào. Tin rằng thông qua sự quyết tâm và cố gắng của hai bên, mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt -Trung ắt sẽ đượckhôi phục và phát triển theo chiều sâu.
Hai bên đạt được nhận thức chung ba nguyên tắc về phát triển mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam : một là lãnh đạohai đảng hai nướcsẽ tăng cường hơn nữa sự trực tiếp chỉ đạo phát triển mối quan hệ hai bên, thúc đẩy mối quan hệ Trung-Việt luôn luôn phát triển lành mạnh ổn định. Hai là hai bên cần tiếp tục làm sâu sắc sự giao lưu về đảng, chú ý khôi phục lâu dài và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế thương mại, an ninh chấp pháp, nhân văn. Ba là hai bên đồng ý nghiêm chỉnh tuân theo các nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai đảng hai nước đã đạt được, nghiêm chỉnh thực hiện « Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước », sử dụng tốt cơ chế đàm phán biên giới của chính phủ Trung Quốc-Việt Nam, tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể tiếp thụ, tích cực nghiên cứu và bàn bạc các vấn đề cùng phát triển, không sử dụng hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục quan hệ Trung-Việt và hòa bình ổn định ở biển Nam Hải.
Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Trưởng ban đốingoại Trung ương Đảng Vương Gia Thụy đã tham gia hội đàm. 
Nguyên Hải  (dịch)
Nguồn : Văn Hóa Nghệ An