Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

BBC - BÀI THAM KHẢO VỀ CHỈ ĐẠO CỦA TT DŨNG

Thủ tướng và cái giá của sự 'ngạo mạn'?


Việt Nam của năm 2012 là đất nước chìm trong khối nợ xấu khổng lồ, bắt nguồn từ hệ thống ngân hàng, khối quốc doanh yếu kém, những doanh nghiệp tư nhân thoi thóp vì thiếu vốn và sự thao túng nền kinh tế của các nhóm lợi ích.
Trong bối cảnh đó, những năm qua nhiều ý kiến chỉ trích đã hướng về phía thủ tướng đương nhiệm, ông Nguyễn Tấn Dũng vì quản lý lỏng lẻo và chủ nghĩa bè phái, với cao trào là Hội nghị Trung ương 6 vừa bế mạc ngày 15/10.
Bài viết nhìn lại về một vài dấu ấn của ông lên nền kinh tế Việt Nam từ lúc nhậm chức hồi năm 2006.

“Thủ tướng hiện đại”

Từ góc nhìn của giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc, ông Dũng là “Thủ tướng hiện đại đầu tiên của Việt Nam”.
Là người mà Thayer gọi là “kinh tế gia theo chủ nghĩa dân tộc”, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đầu trong việc giám sát tăng trưởng kinh tế Việt Nam kể từ năm 2006 và là người lãnh đạo cao cấp trong việc lèo lái và thỏa thuận với các chính khách và nhà đầu tư nước ngoài.
Ngay từ lúc nhậm chức, ưu tiên hàng đầu của ông là hỗ trợ xuất khẩu tài nguyên năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, các sản phẩm hải sản và may mặc; ngoài ra còn có phát triển những nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ví dụ như thủy năng và năng lượng hạt nhân.
Ngoài ra, việc đầu tư vào những công trình như nhà máy lọc dầu Dung Quất của chính phủ cho thấy xu hướng muốn tách dần ra khỏi việc xuất khẩu tài nguyên dạng thô bằng cách trang bị cho kinh tế nội địa khả năng chế biến trước khi xuất khẩu nhằm nâng cao vị trí của Việt Nam trên chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhận xét về những thành tựu nổi bật trong nhiệm kỳ của thủ tướng, giáo sư Carl Thayer nói: "Khi Việt Nam phải gánh chịu khủng hoảng hồi năm 2008, thủ tướng đã đề xuất và thực hiện gói kích cầu để tạo một lá chắn khá tốt cho Việt Nam."
Một ý kiến khác từ chuyên gia Châu Á của hãng phân tích ONDD, ông Raphael Cecchi thì cho rằng "Nghị quyết số 11 của chính phủ vào năm ngoái đã giúp ổn định kinh tế vĩ mô đáng kể, kiềm chế thành công lạm phát".

'Ngạo mạn'

 
Hàng triệu người bị ảnh hưởng bởi lạm phát và kinh tế yếu kém trong vài năm qua.( Chú thích ảnh)
Là "một thủ tướng nhiều quyền lực nhất trong lịch sử Việt Nam và là người theo đuổi chính sách tăng trưởng nóng", tuy nhiên, “điểm yếu lớn nhất của ông Dũng là sự ngạo mạn và thiếu khả năng lắng nghe những ý kiến quan trọng,” giáo sư Carl Thayer bình luận.
Để giúp tiến hành cải cách kinh tế, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và hành chính. Đến khi thủ tướng Phan Văn Khải kế nhiệm, ông đưa tổ chuyên gia này lên thành Ban nghiên cứu về kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Chính phủ.
Thế nhưng ngay khi nhậm chức, ông Dũng đã giải thể ban nghiên cứu này qua Quyết định số 1008/QĐ-TTg (ban hành ngày 28/7/2006).
“Ông Dũng đã loại bỏ đội ngũ cố vấn của thế hệ đi trước và thay vào đó bằng một mạng lưới bè phái của riêng mình” – Giáo sư Carl Thayer nhận xét.
Sự ngạo mạn này còn được cho là thể hiện qua cách ông đề bạt nhân sự.
“Chỉ cần nhìn cách thủ tướng đề bạt người nhà và những người thân cận vào các vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước cũng đủ thấy ông tự tin thế nào vào sức mạnh vây cánh của mình.” Một người có quan hệ cấp cao trong bộ máy Đảng Cộng sản bình luận với BBC.
“Thực ra ngay từ lúc đầu của Hội nghị Trung ương, những người trong cuộc đều biết rằng cả ông và những người thân tín của ông trong Đảng sẽ không mất chức. Tin đồn rằng thủ tướng bị cách chức chứng tỏ dư luận vẫn còn quá ngây thơ”, người muốn ẩn danh này nói thêm.
Thói quen bỏ ngoài tai những lời khuyên can đã trở thành một điều được nói đến thường xuyên của chính phủ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó có những lời khuyên can về sự bành trướng của mô hình Tập đoàn Nhà nước, những đầu tư công thiếu hiệu quả, làm thâm hụt vốn, ảnh hưởng môi trường cũng như sự bùng nổ của tăng trưởng tín dụng từ những kinh tế gia, nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các lãnh đạo và cựu lãnh đạo quốc gia mà tiêu biểu có tướng Võ Nguyên Giáp, cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.

Tín đồ của tăng trưởng nóng

 
Ông Dũng có tham vọng biến Vinashin thành tập đoàn mạnh cấp khu vực.(Chú thích ảnh)
Theo Raphael Cecchi, "sai lầm lớn nhất của Thủ tướng Dũng là đã theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, lấy trọng tâm là khối quốc doanh trong lúc nền kinh tế đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất khu vực trong suốt một thập niên qua."
Không ít các ý kiến cho rằng với tham vọng tăng trưởng thần kỳ, việc ông Dũng xây dựng các tập đoàn Nhà nước lấy ý tưởng từ mô hình Chaebol của Nam Hàn để trang bị cho nền kinh tế những 'cú đấm thép' là không có gì đáng ngạc nhiên.
Tương tự với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước của thủ tướng được ưu đãi những khối tín dụng khổng lồ, được đảm bảo từ phía chính phủ. Nếu tăng trưởng tín dụng trong những năm 90 chỉ có 20% thì đến năm 2010, mức này lên đến 136%. Tín dụng chủ yếu được bơm vào các doanh nghiệp Nhà nước và các thế lực đầu cơ chứng khoán, bất động sản.
Tuy nhiên khác với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước Việt Nam không được hình thành qua quá trình tích tụ vốn, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và không những không thay thế được nhập khẩu mà còn đẩy cán cân thương mại sang nhập siêu khi nhập khẩu quá nhiều vật liệu.
Không những thế, quyết định cho phép các doanh nghiệp nhà nước đầu tư đa ngành trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 – 2010 kèm theo sự quản lý yếu kém của thủ tướng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này lạm dụng nguồn cung cấp tín dụng dồi dào để phát triển đa ngành, lũng đoạn nền kinh tế nội địa với các công ty con làm ăn thua lỗ, khiến 70% nợ xấu trong tổng 200 nghìn tỷ nợ xấu tại các ngân hàng thuộc về khối quốc doanh.

Thu hút vốn đầu tư và vay vốn lãi suất thấp từ Trung Quốc để khắc phục thâm hụt mậu dịch là một phần khác trong chiến lược tăng trưởng của thủ tướng; tuy nhiên điều này không những gây phản ứng mạnh mẽ từ dư luận trong bối cảnh tranh chấp lãnh hải trên biển Đông giữa hai nước mà còn khiến Việt Nam ngày càng phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc.
Một ví dụ như trong 4 tháng đầu năm 2011, nhập siêu Việt Nam là gần 4,9 tỷ đôla, trong đó riêng nhập siêu từ Trung Quốc chiếm gần 4 tỷ đôla.
Nhập siêu với Trung Quốc dưới thời thủ tướng Dũng cao hơn hẳn những người tiền nhiệm; riêng trong năm 2010 là ở mức 12,7 tỷ đôla , cao gấp 5 lần mức 2,67 tỷ đôla năm 2005 trong nhiệm kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải.
Sự nhập siêu này được Trung tâm nghiên cứu kinh tế và Chính sách VEPR, đại học quốc gia Hà Nội lý giải là dưới thời thủ tướng Dũng, có đến 90% các dự án lớn, chủ yếu là công nghiệp thượng nguồn của các tập đoàn kinh tế Việt Nam trụ cột với giá trị trúng thầu từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đôla có nhà thầu là Trung Quốc.
Điều đáng chú ý ở đây, là các nhà thầu này thường chỉ sử dụng lao động và thiết bị đem từ Trung Quốc sang, dẫn đến việc Việt Nam không được hưởng chút lợi ích nào về lao động việc làm trong các thương vụ với Trung Quốc. Trong khi đó, đầu tư nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% tổng FDI của Việt Nam.
Để bù đắp cho sai lầm trong chính sách mậu dịch với Trung Quốc, chính phủ thủ tướng Dũng đã phải tìm kiếm những khoản FDI khác từ nước này để cân bằng cán cân thương mại, bất chấp những quan ngại về sự phá hoại môi trường và an ninh quốc phòng.
Tăng trưởng tín dụng của Việt Nam so với khu vực qua các năm ( Biểu đồ bên )
Dự án Bauxite Tây Nguyên mà tác giả David Pilling trong bài viết đăng ngày 6/5/2009 trên Financial Times gọi là sự 'triều cống' của Việt Nam để đổi lại khoản đầu tư 15 tỷ đôla nhằm giải quyết 11 tỷ đôla nhập siêu năm đó là một trong những dự án như vậy.
Để đảm bảo tăng trưởng, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng còn phải chỉ đạo thu hồi đất nông nghiệp cho các dự án biệt thự, sân golf, công nghiệp.
Nhiều vụ trong số này đã trở thành cưỡng chế bạo lực, dẫn đến những vụ như Văn Giang hồi tháng Tư năm nay. Điều này khá giống với tình hình tại Trung Quốc trong bản báo cáo mới nhất của Ân xá Quốc tế.
Chỉ tính trong 5 năm từ 2006-2010, cả Việt Nam đã mất khoảng 200 nghìn ha đất cho các dự án công nghiệp, sân golf, biệt thự, dẫn đến gần 2,5 triệu lao động mất việc và người nông dân có 3-4 tháng nông nhàn mỗi năm, theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

Lạm phát "quán quân" khu vực

( Chú thích ảnh bên :
Bất ổn vĩ mô đã kéo theo biến động trong khu vực ngân hàng Việt Nam)
Không có nước nào trong khu vực hoặc thậm chí có điều kiện tương tự mà lạm phát liên tục cao hơn tăng trưởng như Việt Nam những năm qua
Hồi tháng 10/2007, trả lời báo chí trong nước, ông Nguyễn Sinh Hùng (lúc đó là phó thủ tướng) tự tin khẳng định “chỉ tiêu tăng trưởng 9% trong năm 2008 là khiêm tốn”. Thậm chí ông cho rằng trong điều kiện thuận lợi, khả năng tăng trưởng lên đến hai con số là hoàn toàn có thể.
Có lẽ lúc đó ông Hùng đã không lường trước rằng, thứ duy nhất tăng lên hai con số năm 2008 là ... lạm phát.
Lạm phát năm 2007-2008 bùng nổ vì nhiều lý do, trong đó có sự tăng mạnh của mức lương tối thiểu, gia tăng giá cả của hàng hóa quốc tế và việc luồng đầu tư nước ngoài đổ vào ồ ạt sau khi Việt Nam gia nhập WTO cuối năm 2006 mà không có chính sách kiểm soát; kèm theo chính sách tiền tệ lỏng lẻo, thiếu linh hoạt cũng như tỷ giá cứng nhắc.
Ngân hàng Nhà nước lúc đó phải bơm tiền đồng vào nền kinh tế để giảm nhẹ áp lực tăng tỷ giá, làm trầm trọng hơn tình trạng lạm phát, đưa lạm phát tháng Tám năm 2008 lên mức 28,2%, cao nhất kể từ năm 1993, theo số liệu từ Tổng cục thống kê.
Không những thế, những chi tiêu công quá mức (chiếm khoảng 20% GDP, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương) thiếu hiệu quả, không tạo ra sản phẩm tương ứng, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế cũng như các khoản vay theo quan hệ và sự độc quyền giá xăng, điện khiến lạm phát như quả bom chỉ chực bùng nổ và thực tế đã tiếp tục leo lên 23,2%, mức cao nhất Châu Á trong tháng Tám năm 2011.
Cũng kể từ năm 2008, mặc dù triển vọng tăng trưởng vẫn bị hạ thường xuyên nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn liên tục trượt mốc chỉ tiêu, với tăng trưởng trượt dốc từ mức 8,2% năm 2006 xuống còn 5,2% trong năm 2012 theo báo cáo tháng Mười của Ngân hàng Thế giới.

Đầu tư để kiếm lỗ?

Ảnh bên : Thủ tướng Dũng trong những phút cuối diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng Một trong những dấu ấn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên kinh tế Việt Nam là việc hướng đầu tư công vào những dự án hoặc có rất ít, hoặc không có chút giá trị kinh tế nào trong khi cả người dân lẫn doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều than vãn về hạn chế cơ sở hạ tầng của Việt Nam.
Chỉ số được sử dụng rộng rãi trong việc đo đạt hiểu quả đầu tư là Hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR). Mục đích của hệ số này là tính ra phải mất bao nhiêu đồng vốn đầu tư mới tạo ra một đồng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chỉ số ICOR càng cao đồng nghĩa với vốn đầu tư được sử dụng kém hiệu quả.
Nếu báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy ICOR dưới thời cố thủ tướng Võ Văn Kiệt giai đoạn 1991-1995 chỉ là 3,5 và tăng lên 3,9 trong nhiệm kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải thì dưới thời thủ tướng Dũng, hệ số ICOR tăng vọt lên 6,15 trong giai đoạn 2007-2008 và đến năm 2009 thì lên đến 8.
Dù con số này đến năm 2010 đã giảm xuống mức 6,9 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Đáng chú ý hơn, ICOR của khu vực Nhà nước năm 2010 là 10,2 lần, cao gấp rưỡi hệ số chung trong khi đó, ICOR của khu vực ngoài Nhà nước năm 2010 là 3,9 lần, thấp hơn hệ số 4,9 lần của năm 2006, chứng tỏ sự vượt trội trong hiệu quả đầu tư.
Ngoài ra báo cáo của sứ quán Anh hồi tháng Sáu cũng chỉ ra khoảng cách năng suất lao động của các doanh nghiệp Nhà nước so với cả khu vực doanh nghiệp nói chung tăng ngày càng lớn qua thời gian, từ 1:4 năm 2000 đến 1:8 năm 2008.
Chỉ cần lấy ví dụ những công trình mà thủ tướng đích tay ký như cảng Vân Phong, với tổng mức đầu tư 3,6 tỷ đôla và lễ khởi công hoành tráng tốn kém hơn 4,144 nghìn tỷ đồng giờ chỉ còn lại "114 cọc thép và một xà lan toàn những máy móc rỉ" (theo AP); những câu chuyện như sự tiêu phí 4 tỷ đôla của Vinashin hay các dự án bỏ hoang của Vinaconex thì cũng dễ hiểu tại sao cây bút Geoffrey Cain lại phải thốt lên "Việt Nam của năm 2012 là nơi có chính phủ đưa ra quyết định xây dựng những công trình ở những vị trí kỳ cục" trong bài viết trên trang Foreign Policy hồi tháng Bảy.

Sau những thành tựu

Nỗ lực làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước của ông Nguyễn Phú Trọng được một số người đánh giá cao.( Chú thíc ảnh)
Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục được “phong tặng” các danh hiệu nhất nhì bởi các tổ chức quốc tế.
Về kinh tế, Việt Nam là nước thứ nhì ASEAN từ dưới đếm lên trong năng lực cạnh tranh toàn cầu, theo báo cáo tháng Chín của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF); tụt tổng cộng 16 bậc trong hai lần xếp hạng gần nhất của tổ chức này.
Báo cáo hồi tháng Sáu năm nay của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng chỉ ra rõ những cái 'nhất' khác của kinh tế Việt Nam như lạm phát, tăng trưởng tín dụng, lãi suất và tỷ lệ nợ xấu cao nhất Châu Á những năm qua.
Đó là chưa kể đến những danh hiệu phi kinh tế khác như "nước bảo vệ động vật hoang dã tồi nhất" của Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WFF) hay vị trí 172/179 trong xếp hạng những nước thù địch tự do Internet của Tổ chứng phóng viên không biên giới (RSF).
Những sai phạm nghiêm trọng trong điều hành của ông Dũng được cho là lý do khiến Trung ương Đảng phải họp kín sớm hơn dự đoán hồi đầu tháng Mười.
Trả lời về kết quả Hội nghị Trung ương Sáu sau buổi bế mạc ngày 15/10, giáo sư Carl Thayer nói:

"Trên thực tế, Thủ tướng Dũng đã được Trung ương trao cho một nghị trình để thực hiện. Và hội nghị trung ương lần tiếp theo, rất có thể sẽ mở ra vào tháng 12 hoặc đầu năm tới.
Và từ nay tới đó, Thủ tướng Dũng phải làm tốt, căn cứ vào những gì ông ta đã hứa khi tự phê. Sẽ có nỗ lực phối hợp để xác định rõ và xử những ai bị cho là chịu trách nhiệm về Vinashin và Vinalines. Ban Kinh tế Trung ương sẽ họp để tư vấn cho Đảng qua các phân tích nhằm buộc ông Dũng phải có trách nhiệm về hành vi của mình.
Bộ Chính trị cũng sẽ phải ra được một kế hoạch hành động mang tính phối hợp nhằm giải quyết các điều yếu kém đã nêu ra ở hội nghị trung ương lần này."
Nhận định về người có khả năng kế nhiệm Thủ tướng Dũng, ông Thayer cho rằng phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là ứng cử viên khá sáng giá, vì không những là người được ông Dũng chọn đầu tiên mà còn là phó thủ tướng duy nhất nằm trong Bộ chính trị.
“Nhiều người cho rằng phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là người khá trung lập trong quan hệ trong Đảng cộng sản. Tuy nhiên thực tế là ông Phúc là người rất thân tín của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,” nguồn tin giấu tên có quan hệ cấp cao trong Đảng nói.
“Trong mắt ông Dũng, ông Phúc là người 'dễ bảo' và có đường lối ôn hòa.”

THẾ LÀ CÁC CỤ ĐI TÂY !

Thời gian gần dây các cụ Làng ta tấp nập xuất ngoại. Chỉ trong tháng 8-9/2015 :
- Cụ Trương Trác cùng phu nhân trở về nhà sau 3 tháng sang chơi với con cháu bên Thụy Điển- Nước được bình chọn là "giầu có, đáng sống nhất quả đất !" lại trình Làng ngay 1 bài ( sưu tầm được) có tên là " SỐNG Ở TÂY CÓ SƯỚNG NHƯ TÂY ?".Và kết luận KHÔNG !
( Mõ đang chờ chủ nhân cung cấp ảnh )

- Cụ ( Vỡ lòng) Trần Kháng Chiến cùng phu nhân nửa tháng giong ruổi theo dọc sông Volga bên nước Nga thời hậu Xô viết.

Về nước chưa được 1 tháng đã thấy Kháng Chiến cùng chú em Kiến Quốc xuất hiện ở thủ đô Vien Chăn cùng "nhậu" với vợ chồng con trai cố chủ tịch Suphanouvong ( cựu HS Trường ta với tên Việt là "Chính") .

 ...và đạp xe đạp dạo chơi quảng trưởng Thap Luong 

- Cụ Tú Riềng cùng phu nhân trong đoàn Đại gia đình khởi hành chuyến Tây Du từ 14/8, hiện đang ở Tp Essen CHLBĐ và đã nghiên cứu tình hình dẫy chết (nhưng không chịu chết) của CNTB ở 3 quốc gia : Pháp, Hà Lan và Vương quốc Bỉ ( Đúng theo lời của cụ Tú Riềng).





Ảnh dưới : Cụ Công Lý đã có mặt dưới chân Tháp Eiffel Paris thủ đô nước PHÁP. (23/9)


Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

TIN BUỒN

Gia đình bà Vũ Thanh Mai và các con kính báo : 
Chồng và cha chúng tôi, ông : 
Mai Quốc Anh
Sinh ngày 20/5/1937
Đã mất vào hồi 17h15 ngày 19/9/2015 (7/8 Âm lịch)
Lễ viếng từ 13 h - 15h ngày thứ năm 24/9/2015 tại nhà tang lễ bệnh viện Bạch Mai Haf Nội . An táng tại đài HOÁ THÂN HOÀN VŨ .
Gia đình kính báo.                           
                              Bà Quả phụ  : Vũ Thanh Mai
                              Trưởng nữ.  : Mai Anh Sa
                              Thứ nam.    : Mai Anh Vũ

----------ooOoo----------

Ban liên lạc K5 trường TNVN LƯ SƠN QUẾ LÂM VÀ NAM NINH kính mời các bạn 
đúng 14 h ngày thứ năm 24/9/2015 
có mặt tại nhà tang lễ BV BẠCH MAI để tham dự tang lễ


CÁC CỤ ĐOÀN 10 (HN) LÊN XUÂN MAI THĂM TRẠI ĐẶNG TỪ THIỀU

Ảnh của 2 cụ Nhật Hồng và  Khoa Phi 

 ĐOÀN 10 DÃ NGOẠI
(Hồng Nhật viết bài)
    Nhận lời mời của bạn Đặng Từ Thiều, sáng 19/9 các thành viên đoàn 10 (Hà Nội)đã lên đường tới thăm trang trại của con trai bạn Thiều.
Kể cả dâu rễ cháu, đoàn có 12 người, do trưỡng ban tổ chức (tự xưng) Hồng Nhật dẫn đầu. Mấy hôm nay, Hà Nội mưa như trút nước vậy mà ngày Đoàn lên đường, trời nắng ráo mát mẻ.
Trang trại rộng 6 heta nằm bên đường HCM, cách Hà Nội khoảng 60 Km. Thiều cho biết đây là cơ sở của nhà văn Chu Lai để lại cộng với đất của vợ  bé một vị thứ trưởng đã chết. Kể cũng tiếc ! Vó vợ bé mà lại không được sống!


Trang trại quá rộng, chúng tôi chỉ dạo quanh khu nhà ở của gia đình Thiều. Vườn cây xanh tốt, ao đầy cá, chuồng trại có nhiều giống chim, gà quý hiếm, chim bồ Cu ở đây rất to.

                                       Ông cháu Hồ Uy Liêm và Khoa Phi dật cá Liên tục.
               Từ trái sang : Các cụ Xuân Hoài, Chưởng, Thiều, chị Loan ( Hồng Nhật phu nhân), Loan, Hồng Nhật, Uy Liêm, Thẩm Thư ( Loan phu quân).  (Bạn Hồ thị Nghĩa vừa đi Châu Âu về, tuy mệt nhưng cũng vui theo đoàn.) Vắng mặt Bạn Thùy có việc bận. Tôi, Khoa Phi chụp ảnh, ngoài khuôn hình !
 
Không biết các bạn có để ý không: đầu tháng 3, lên đèo ĐÁ ĐẼO Nghĩa và Khoa Phi cùng vào rừng, vài hôm sau thấy Nghĩa ọ ọe còn hôm nay thì lấy nón che bụng!? (Xin lỗi bạn Nghĩa nhé, HN chỉ bình luận theo ảnh thôi)
Buổi trưa Từ Thiều mời đoàn thưởng thức món thịt gà của trang trại ,Thiều nói đây là menu do Nhật Lệ chỉ đạo. Ăn xong, các tiên bà vào nằm nghỉ theo kiểu cách đây 63 năm, nhưng do không có các anh phụ trách nhắc nhở nên các bà râm ran suốt trưa, không biết chuyện đâu ra mà lắm thế hở Quang Thuỳ?
 Ba giờ chiều, chúng tôi lại lên thăm một nhà vườn khác, là đồng nghiệp của Hồng Nhật, mới nghỉ hưu về xây dựng vườn cách đây vài năm, vườn chỉ 3500 m2 nhưng cây trái đâu vào đấy, ai cũng phải khen (đoạn này, máy của Khoa Phi hết phim nên không có ảnh). Chủ vườn mời thưởng thức Thanh Long ruột đỏ, quá ngon.
 Trên đường về mọi người đều thỏa mãn và còn đề nghị nhóm trưởng tổ chức đi: Hà Giang, Hồ Ba Bể, đi Lào. . 



SYRIA- CUỘC NỘI CHIẾN CHƯA BIẾT ĐIỂM DỪNG!

Nguyễn Ngọc Hùng
(Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ CN )

Phản kháng và “dẹp loạn” tại Syria bùng lên vào giữa tháng 3/2011, muộn nhất so với các sự kiện tương tự gọi là “Mùa xuân Arab” làm náo động nhiều quốc gia Arab ở Trung Đông- Bắc Phi nổ ra từ đầu năm ấy.
Đôi bên Syria không đội trời chung
Phe phản kháng ở Syria cũng tương tự như phong trào nổi dậy tại các quốc gia Arab khác trong “Mùa xuân Arab”, mà đặc điểm bao trùm ban đầu là tự phát, không có lãnh đạo và không vũ trang. Nhưng chính quyền Syria thì không bị bất ngờ và không rơi vào lúng túng bị động đối phó như tại Ai Cập, Tunisia, Lybia... Tổng thống Bashar al-Assad, ngay từ đầu đã nhất quán thực thi chính sách “trấn áp quyết liệt”, không để cho phản kháng có thể tập hợp được lực lượng đông đảo kiểu “biểu tình triệu người nằm lỳ dài ngày tại các đô thị lớn”. Máu đã đổ ngay từ cuộc biểu tình đầu tiên xảy ra ngày 15/3/2011 tại thành phố Dar’a- phía nam thủ đô Damas!
Nếu cuộc nội chiến tại Syria được tính từ thời gian những người phản kháng bắt đầu cầm vũ khí chống lại chính quyền- cuối tháng 6/2011, thì đã kéo dài hơn 4 năm, với khoảng 250 ngàn người thiệt mạng, trên dưới 10 triệu người li tán trong nước hoặc ra nước ngoài và hầu hết các đô thị đều bị tàn phá tan hoang!
Tính chất khốc liệt của cuộc nội chiến này chủ yếu do đôi bên Syria đối địch nhất quyết không đội trời chung. Hận thù chồng chất từ suốt quá trình 40 cầm quyền theo kiểu “cha truyền con nối” của dòng họ al-Assad, cộng với những chết chóc thảm thương, tù đày khốn khổ, li tán khắp nơi và tàn phá tan hoang suốt hơn 4 năm qua càng khiến cả đôi bên nhận thức rõ ràng rằng không có chỗ tồn tại cho bên này, nếu để bên kia toàn thắng! Đây là một trong những nguyên nhân căn bản khiến cho mọi nỗ lực giàn xếp từ phía Arab và quốc tế đều thất bại.
Sự can dự từ bên ngoài:
Cuộc nội chiến càng kéo dài, thì sự can dự từ bên ngoài vào Syria càng trở nên phức tạp hơn. Hai thế lực bên ngoài can dự vào cuộc xung đột tại Syria gồm một bên là Iran và Nga ủng hộ chính quyền của tổng thống al-Assad và bên kia là Mỹ, phương Tây và Arab, Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ cho đối lập.
Xét về mặt lợi ích thiết thân, thì Iran và Nga phải gắn bó hơn với sự tồn tại của chính quyền al-Assad.
Từ khi chế độ Saddam Hussein bị Mỹ xóa sổ tại Iraq năm 2003, Iran đã nhanh chóng xây dựng được một khu vực ảnh hưởng mạnh mẽ lấn vào khu vực Đông Arab; bao gồm Iraq, Syria và Liban. Người Arab gọi đây là “Vành đai Shi’a” của Iran. Nếu chính quyền al-Assad ở Syria sụp đổ, thì phe đối lập, chủ yếu là theo dòng Suna, sẽ xóa sạch vai trò của Iran tại Syria, cắt đứt mắt xích quan trọng trong “vành đai Shi’a” và khiến Hizbullah ở Liban bị cô lập với Iran.
Với Nga, Syria cũng là đối tác chiến lược theo hiệp định hữu nghị và hợp tác ký năm 1980. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga vẫn giữ một căn cứ hải quân tại cảng Tartous ở duyên hải tây- bắc Syria. Căn cứ này hình thành từ năm 1971 và nay là chỗ đứng chân duy nhất của hải quân Nga tại khu vực Địa Trung Hải. Tartous còn có vị trí chiến lược đối với giao thông hàng hải quốc tế giữa Biển Đen với Địa Trung Hải, để từ đó ra Đại Tây Dương hoặc xuống Ấn Độ Dương.
Quan hệ giữa Iran và Nga với chính quyền của tổng thống al-Assad là quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền và giữa các chính phủ hợp pháp với nhau. Nhờ lợi thế “chính đáng” này, Nga và Iran không ngừng cung cấp viện trợ mọi mặt cho chính quyền Damas. Bởi thế, quân đội Syria chưa bao giờ thiếu hụt vũ khí, bom đạn trong cuộc nội chiến đối đầu với các nhóm vũ trang đối lập vừa non trẻ, vừa hỗn tạp, lại luôn trong tình trạng trang bị thiếu thốn và bất cập.
Mỹ- phương Tây và Arab nhất quán lập trường ủng hộ chính trị cho phe đối lập suốt từ cuối năm 2011 đến nay. Nhưng sự ủng hộ ấy thiếu cơ sở pháp lý quốc tế nên luôn chập chờn, không nhất quán và kém hiệu lực trên thực địa cuộc nội chiến ở Syria. Mỹ không cung cấp vũ khí cho đối lập, bởi không thể vũ trang cho “phiến quân” chống một chính quyền hợp pháp. Mãi đến giữa năm 2014, tổng thống Obama mới quyết định “cung cấp vũ khí sát thương có giới hạn” cho một số nhóm mà Mỹ xác định là “ôn hòa”.
Sự phức tạp của yếu tố IS:
Từ cuối năm 2013, tổ chức tiền thân của Nhà nước Hồi giáo (IS) xuất hiện cùng với Mặt trận Nusra (al-Qa’eda ở Syria) và nhiều nhóm vũ trang Hồi giáo cực đoan khác. Các nhóm khủng bố và cực đoan này ngày càng thể hiện sức mạnh nổi trội trên chiến trường, khiến các tổ chức đối lập ôn hòa mà Mỹ và phương Tây vẫn quan hệ như “đối tác” trở nên lu mờ và ngày càng teo tóp. Rồi IS xuất hiện như một thực thể tại Syria- Iraq từ giữa năm 2014 và trở thành mối hiểm họa chưa từng thấy! IS không chỉ chống chính quyền Syria, mà công khai đối đầu với các thế lực mà chúng gọi là “quân Thập Tự” (Chỉ tất cả người theo đạo Thiên Chúa), “quân phản đạo” (như dòng Hồi giáo Shi’a mà Iran là đại diện) và “ngoại đạo” (chỉ tất cả những ai không theo Hồi giáo)! IS thực sự là kẻ thù và mối hiểm họa của toàn thế giới!
Chính quyền Syria luôn coi tất cả đối lập vũ trang là “khủng bố”, tận dụng sự xuất hiện của IS để biện minh cho các hành động trấn áp khốc liệt của mình. Nga và Iran cũng lý giải cho việc họ tiếp tục bảo trợ cho chính quyền al-Assad là “để chống khủng bố”.
Bên Arab và Thổ Nhĩ Kỳ lại tận dụng khả năng tác chiến của các nhóm cực đoan, kể cả Mặt trận Nusra để đối trọng với quân đội của al-Assad. Thực ra, người Arab không chống “độc tài gia đình trị”, mà chỉ không chấp nhận al-Assad bởi coi ông này là “con bài thực hiện tham vọng của Iran”!
Bất đồng về giải pháp chính trị
Sự xuất hiện của IS là yếu tố quyết định khiến các thế lực lớn vốn ủng hộ đôi bên kình chống nhau tại Syria tìm được một điểm chung là phải cùng nhau xóa bỏ thực thể khủng bố này. Mỹ- phương Tây và Nga đều nhận thấy không nên để thể chế nhà nước Syria sụp đổ, để tránh nước này rơi vào hỗn loạn tương tự như Libya hiện nay, bởi sự hỗn loạn chính là môi trường thuận lợi cho cực đoan và khủng bố phát triển. Các bên liên quan đang cùng với Liên Hợp Quốc nỗ lực vận động giàn xếp một  giải pháp chính trị tại Syria, nhằm đạt được ngưng bắn, thành lập một chính quyền chuyển tiếp với một “chính phủ toàn quyền” gồm tất cả các bên xung đột tham gia, tiến tới tổng tuyển cử dân chủ... Đường hướng này hình thành từ giữa năm 2012, nhưng đến nay thì định hình rõ rệt hơn.
Tuy nhiên, cản trở lớn nhất là đôi bên mâu thuẫn khó dung hòa về vai trò của tổng thống al-Assad trong thời kỳ chuyển tiếp ở Syria. Nga và Iran khẳng định al-Assad vẫn “hợp pháp” để đứng đầu chính quyền chuyển tiếp. Số phận của ông này chỉ có thể quyết định trong bầu cử do cử tri Syria quyết định. Mỹ và phương cùng Arab và Thổ Nhĩ Kỳ nhất quyết không cho al-Assad một vai trò nào trong chính quyền chuyển tiếp cũng như tương lai sau đó của Syria.
Nhân tố Saudi Arabia
Từ đầu năm 2015, với việc Salman Ben Abdu al-Azeez lên ngôi hoàng đế, nhân tố Saudi Arabia chính thức xuất hiện như một thế lực đại diện cho Arab để ứng xử với cả Mỹ, Nga liên quan đến Syria và những vấn đề khác xảy ra tại khu vực Arab. Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ liên kết lập trường với nhau về vấn đề Syria, tạo thành một thế lực khu vực có khả năng hành động không lệ thuộc vào Mỹ- phương Tây và Nga. Nhờ sự giúp đỡ mạnh mẽ của Arab và Thổ Nhĩ Kỳ, lực lượng vũ trang đối lập đẩy lùi quân đội Syria trên nhiều mặt trận quan trọng, khiến chính quyền al-Assad và các đồng minh của họ (Iran, Hizbullah...) rơi vào thế phải chống trả quyết liệt để tồn tại. Thủ đô Damas và khu vực duyên hải phía tây- bắc Syria (nơi có quân cảng Tartous của Nga và có quê hương của al-Assad) bị đe dọa nghiêm trọng. Diễn biến này là một trong những nguyên nhân tức thời khiến Nga phải tăng cường sự hiện diện quân sự của mình tại khu vực duyên hải tây- bắc Syria từ đầu tháng 9.
Khi tiếp xúc với tổng thống Nga- Vladimir Putin và ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov hồi cuối tháng 8 vừa qua, các đại diện của Arab (ngoại trưởng Saudi Araiba, nhà vua Jordani, tổng thống Ai Cập) đều khẳng định lập trường không thể “không tính sổ” với al-Assad và những người thân cận của ông này trong chính quyền Syria, về “những tội ác ghê tởm” của họ đối với nhân dân và đất nước Syria suốt 4 năm qua, và không thể có một vai trò nào cho al-Assad trong một giải pháp chính trị ở Syria!
Lập trường kiên quyết của Arab không đơn thuần chỉ là “vấn đề Syria”, mà đây là một nội dung trong cuộc đối đầu mang tầm khu vực, giữa Arab với Iran.
Đôi bên Syria không thể chấp nhận sự tồn tại của của đối thủ. Cuộc nội chiến Syria nay mang bản chất của cuộc đối đầu Arab- Iran. Các nước lớn, nhất là Mỹ và Nga đều lấn bấn với rất nhiều nỗi bận tâm mang tầm toàn cầu của họ...
Chưa biết đến bao giờ mới có lối thoát cho cuộc nội chiến rất nhức nhối tại Syria!
12/9/2015
NGUYỄN NGỌC HÙNG

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

CỤ TRƯƠNG TRÁC ĐI TÂY VỀ :" ĐI TÂY CÓ SƯỚNG NHƯ TÂY ?"

Calathau nói leo : " Cụ Trương Trác cùng phu nhân vừa từ tây Âu trở về Việt Nam sau một mùa Hè Hà Nội nóng như đổ lửa. Trước khi đi Mõ có đặt hàng cụ viết mấy chuyện vui vui về cuộc sống của người Ta bên Tây. Cụ ừ hữ. Chờ hoài không thấy tăm hơI, thì hôm nay mở "cửa" vào "Nhà " cụ thấy có stt ĐI TÂY CÓ SƯỚNG NHƯ TÂY ?.Trước hết biết tin vui : Cụ ông cụ bà đã hạ cánh an toàn, chắc là có nhiều chuyện để kể với Làng ta . Thì đây là một thông tin rất đáng quan tâm. Bởi không ít các cụ nhà mình có con, cháu đang làm việc hoặc định cư ở nước ngoài. Nhìn bề ngoài tất cả đều là "mầu hồng sáng chói"  nhưng thực sự phía sau là như thế nảo ? Từ câu chuyện của một người coi như thành đạt ở nước Đức kể lại, ta nhân ra được nhiều điều thuộc về bản chất về tính cách, về quan niệm sống của người ViệtNam. Sau khi đọc bài này BUỒN hay VUI tùy suy nghĩ mỗi người . ( Xin lỗi cụ Trác, Mõ lấy bài của cụ dán lên đình Làng mà chưa hỏi ý kiến. Ai cần đọc nguyên bào mời vào nhà cụ Trác như đường dẫn ở trên )
Mùa hè vừa rồi tôi có dịp đi một số nước ở châu Âu. Đâu đâu cũng có người Việt làm ăn, sinh sống. Nghề ngiệp của họ chủ yếu là bán hàng trong những khu chợ người Việt. Những khu chợ này cũng na ná như chợ ở các thành phố ở Việt nam. Những gian hàng tạp hóa với hàng rẻ tiền, những quầy hàng thực phẩm quen thuộc của Việt nam, những tiệm làm móng tay móng chân. Và đặc biệt là các cửa hàng ăn to nhỏ các cỡ. Đặc điểm chung là hàm lượng tri thức trong hoạt động làm ăn này hầu như không có gì mặc dù chủ nhân của những gian hàng này không ít người là tiến sĩ, kĩ sư....Tôi định viết một bài về việc làm ăn của người Việt mình ở bên tây theo những gì mà tôi quan sát thấy nhưng nhân có bài viết của bạn Trần Mạnh Thái, một người hiện đang sống ở Đức, cũng có nhiều điểm giống như tôi nghĩ nên xin đưa về đây chia sẻ cùng các Cụ.

Đi Tây có sướng như Tây'?
                                                      Bài viết của  Trần Mạnh Thái, 11 tháng 9,2015.                                               

Nhiều người như tôi sang Đức từ thời Đông Đức đến nay cũng đã trên dưới 35 năm, người sang muộn hơn thì cũng đã trên dưới 25 năm. Những người sang sau khi nước Đức thống nhất thì thời gian dài ngắn khác nhau. Nhưng tôi nghĩ dù là sang đây đi học hay sang Đức lao động hay vì một lý do nào khác, phần lớn chúng ta đều có một mong muốn khi quyết định rời xa gia đình, người thân, quê hương... đi Tây để mong có một tương lai tốt đẹp, sung sướng hơn so với cuộc sống vào thời điểm ra đi.
Sau gần nửa cuộc đời son trẻ nhìn lại, chúng ta thấy mình có được “sướng như Tây” hay không.
Bằng sự cần cù chịu khó của người Việt, nhiều người trong chúng ta đã tích luỹ được từ sự lao động cực nhọc của mình một số tài sản cho gia đình có thể nói là giàu có hơn người Đức tính ở hạng trung bình.
Vậy là những người Việt này có thể nói là giàu hơn Tây. Có vài người thì có số tài sản hàng vài triệu tiền Tây, cá biệt một số ít thấy báo chí đưa tin có hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu tiền Tây. Vậy thì số ít này rõ ràng giàu có hơn rất nhiều người Tây ở cả hàng trung và thượng tầng của Xã hội Tây, (đỉnh thì người Việt mình leo chưa tới).
Định nghĩa 'sung sướng'
Trước tiên tôi muốn đề cập đến một số người sang Đức sau ngày Đức thống nhất.
Người nghèo ở Việt Nam ta thì chỉ cần có được một bữa ăn no, chứ chưa dám đòi hỏi ngon đã cảm thấy sung sướng vô cùng, có thể hát vang được câu ca:
“Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, cơm trắng trong nồi lòng ta mê say...!“.
Những người này đến hôm nay vẫn mơ giấc mơ được đi Tây để đổi đời, để được “sướng như Tây”. Khi sang Đức họ ở tạm trong trại Tỵ nạn, nếu không hoặc chưa được cấp quyền tạm trú để ra sống ở ngoài, thì họ cũng được nhà nước chu cấp cho nhà ở, áo quần, tiền ăn uống sinh hoạt đầy đủ.
Hàng ngày họ không phải lao động để mưu sinh và cơm họ ăn thì không phải độn khoai sắn, trên mâm có đủ cả thịt cá và bia bọt. Đối với họ thế là “sướng như Tây” và hơn ở ta (nơi họ ra đi) nhiều rồi.
Một vài người hoàn cảnh ở Việt Nam không đến nỗi nào, nhưng nghĩ là sang Đức sẽ sung sướng hơn ở nhà nên cũng vay mượn lãi cao để "đi Tây“.

Vậy những người được đánh giá là giàu hơn Tây này đã sướng hơn Tây chưa. Mà định nghĩa chữ “sung sướng” như thế nào cho phù hợp với số đông dân chúng?

Sang đến nơi không được cấp quyền tạm trú vì bị bác đơn xin Tỵ nạn. Sống trong trại Tỵ nạn thì gò bó và không bằng khi họ ở Việt Nam, đi làm thêm (làm chui) thì vất vả và số tiền kiếm được không như họ nghĩ nên sinh ra chán nản và họ không cảm thấy “sướng như Tây”.
Một số ít xin tự nguyện hồi hương, một số tìm mọi cách vay mượn tiền xoay sở để có được quyền tạm trú ra sống ở bên ngoài (không phải ai cũng làm được). Một số lại quay ra làm những việc phạm pháp như buôn bán thuốc lá lậu, ăn trộm trong các siêu thị... để nhanh có tiền hay mong nhanh giàu có.
Phải công bằng mà nói trong số những người làm việc phạm pháp cũng có nhiều người hoàn cảnh nghèo khổ ở Việt Nam ra đi, phải "liếm tiền" (kiếm tiền) nhanh bằng mọi giá để trả những khoản nợ vay nóng với lãi suất cao đang hàng ngày đè lên cổ họ.
Nhiều người trong số này nói với tôi họ không ngờ “đi Tây”lại khổ như thế này. Nhưng cũng có nhiều người nói rằng thế này vẫn còn sướng gấp vạn lần ở nhà.
So sánh 'bình dân'
Bây giờ chúng ta xem đến những người Việt rất bình thường ở mức trung bình mà họ chiếm số đông trong cộng đồng người Việt tại Đức. Hai vợ chồng tự hành nghề kinh doanh hay đi làm công ăn lương hay một người làm công một người tự kinh doanh... Thu nhập bằng hoặc hơn người Đức trung bình xem họ có sướng như Tây không nhé!
Đối với người Đức bình thường, khi ngoài rạp chiếu một bộ phim hay, thì họ háo hức cùng gia đình hay bạn bè thu xếp thời gian đi xem. Chuyện rất bình thường. Người Việt ta ít thấy có thói quen đó.
Khi có buổi hoà nhạc hay một băng nhạc được yêu thích biểu diễn live ở sân khấu hay nhà hát nào đó, người Đức kháo nhau, truyền tay nhau những tờ rơi quảng cáo và a lô cho nhau hẹn đặt mua vé và cùng nhau đi xem, hoà mình vào không khí, giai điệu của những buổi sinh hoạt nghệ thuật như vậy. Ít thấy người Việt có mặt tham gia những sinh hoạt này.
Người Việt máu mê đá bóng không phải dạng vừa, những giải bóng đá Thế giới hay Châu Âu hay Bundesliga (giải Ngoại hạng CHLB Đức)... ở trong các khu chợ Việt thì rất náo nhiệt, nhưng vào sân vận động của Đức thì tìm bằng ống nhòm cũng khó thấy có người Việt đi xem. Không khí và cảm nhận ở sân vận động khác rất nhiều trước bàn bia và màn hình phẳng!
Những buổi mở cửa các sinh hoạt ngoài trời tại các công viên hay khu vực vui chơi giải trí cuối tuần, bãi cát cạnh bến nước, Sở thú, vườn hoa, hội chợ... tràn ngập người Đức đến thưởng thức thời gian thư giãn sau một tuần làm việc mệt mỏi. Họ không diện những bộ quần áo đẹp đến những chỗ như vậy để tạo dáng chụp ảnh, họ đến chỉ đơn giản để cho trẻ con thoải mái chạy nhảy, vui đùa.
Người lớn thì nằm lim dim tận hưởng không khí thoáng mát hay đọc một quyển truyện ngắn hoặc nói với nhau dăm ba câu chuyện vui vẻ hay hoà vào dòng người chảy hội, hoặc đứng uống với nhau dăm ba cốc bia... Lớp trẻ thanh niên thì đàn ca, hay vui đùa, tham gia các trò vui chơi giải trí...
Các cặp tình nhân thì say đắm bên nhau... Họ đến để được hoà mình vào thiên nhiên, con người, được sống trong một bầu không khí vui tươi. Họ đến đơn giản để tận hưởng sự thư giãn cuối tuần. Nhìn quanh tôi thấy rất ít người Việt có mặt trong những chỗ như vậy.
'Chém gió, múa quạt'
Sau khi no xôi chán chè thì các ông một là quay ra "chém gió“ hai là "múa quạt“ tá lả, còn các bà thì buôn dưa lê, tán chuyện trên trời dưới bể khoe con cái, khoe giàu sang, hàng hiệu...
Chúng ta hay dùng từ tiếng Đức đi ‘Urlaub’, tiếng Việt có nghĩa là kỳ nghỉ ngơi. Nhưng 100 người thì 90 người lại về Việt Nam, 10 lần đi thì 9 lần về Việt Nam. Cũng dễ hiểu thôi, vì nơi đó là quê hương, là Tổ quốc, nơi ấy có cha mẹ, anh em họ hàng....
Thế nhưng trong những kỳ nghỉ ở Việt Nam có bao nhiêu phần trăm trong số những người về quê được thực sự "nghỉ ngơi" đúng nghĩa của nó.
Người Tây thì lại khác, 90% số người đi ‘Urlaub’ thì họ ra khỏi vùng hay đi ra nước ngoài, ở khách sạn, không có bất cứ mối lo lắng gì với họ hàng, người thân không có mặt cùng trong cuộc đi nghỉ... Họ nằm dài thư giãn, nghỉ ngơi trên các bãi biển hay đạp xe, leo núi, trượt tuyết hoà mình vào thiên nhiên... thực sự là nghỉ ngơi và thư giãn.
Đại đa số trong số họ có mức thu nhập và tài sản chỉ ở mức trung bình.
Còn nhiều ví dụ nữa lắm. Nhiều khi tôi tự hỏi, người Việt chúng ta ở đâu trong những sinh hoạt như vậy.
Chúng ta “đi Tây”đã lâu rồi, sống trong Xã hội Tây cũng đã lâu. Nhiều gia đình thậm chí con cái nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Tây. Nhiều người có nhiều "tiền Tây“ hơn nhiều gia đình Tây trung bình. Vậy lẽ ra họ phải sướng như Tây hay hơn Tây chứ nhỉ.
Hay quan niệm "sung sướng" của chúng ta chỉ là những bữa tiệc cuối tuần mà thường thì chuẩn bị nấu nướng cho 20 người ăn, trong khi khách mời chỉ có 10 người?
Sau khi no xôi chán chè thì các ông một là quay ra "chém gió“ hai là "múa quạt“ tá lả, còn các bà thì buôn dưa lê, tán chuyện trên trời dưới bể khoe con cái, khoe giàu sang, hàng hiệu...
Hoặc chúng ta cho rằng sướng là khi đeo trang sức, mặc quần áo, giầy dép... "hàng hiệu“ trị giá vài ba đến vài chục nghìn tiền Tây trên người, cưỡi trên con xe trên trăm nghìn tiền Tây, ở trong những ngôi nhà vài trăm nghìn tiền Tây là sướng? Hay có người có sở thích cứ trời nắng thay vì đi dạo chơi cùng gia đình thì mang tiền ra phơi cho khỏi bị mốc và với họ vậy là sướng?
Quan niệm lớp trẻ
Mỗi người có quan niệm sướng, khổ khác nhau, nhưng nhìn vào thế hệ thứ hai sinh ra và lớn lên tại Đức thì chúng ta thấy các cháu có quan niệm về lĩnh vực này khác hẳn chúng ta.
Còn nhớ khi các con tôi còn nhỏ vợ chồng tôi vừa làm quán vừa có cửa hàng bán quần áo nhưng vì sẵn có "hoa chân“ (tính thích đi du lịch), máu "bát ngát“ trong người, như bạn bè hay nói, nên vợ chồng tôi thường cùng các cháu "Trên từng cây số“.
Cứ cuối tuần, dành ra buổi chiều thứ 7 đi lấy hàng, còn ngày Chủ nhật đóng cửa cả 2 cơ sở và tranh thủ đưa các con đi chơi. Các khu vui chơi giải trí lớn (tiếng Đức gọi là Vergnügungspark) ở Đức, Pháp chúng tôi đã đưa các con đến được trên chục nơi..

Những nơi lớn như thế này phải đợi đến khi các cháu nghỉ hè. Còn những nơi nhỏ hơn có thể đi cuối tuần thì không nhớ hết được nữa. Vất vả nhưng giờ khi các con trưởng thành ra khỏi nhà thì lại thấy may mắn là hồi đó nhờ có "hoa chân“ nên đã cùng các con được hưởng những thú vui của Tây.
Bây giờ có muốn cũng khó có thể thường xuyên cùng các con đi dã ngoại được nữa! Phải cảm ơn các con vì chúng thích đi, đòi đi thì mình mới được hưởng lây theo sở thích của các con. Thời gian trôi đi không thể quay lại được. Lỡ bỏ phí quãng thời gian trôi qua sẽ không có cơ hội làm lại.
Nhiều người tích lũy hay vay Ngân hàng tiền mua được nhà riêng để ở, mua được nhà để cho Tây thuê có thêm thu nhập. Khi nói chuyện với con cái là sẽ để lại cho con lớn cái nhà này, con bé ngôi nhà kia... Các cháu nói rất thật và thẳng thắn với bố mẹ:
"Bố mẹ cứ giữ lấy mà dùng, chúng con không cần đến. Chúng con sẽ tự đi làm có thu nhập và tự lo được cho cuộc sống của mình“.
Đừng nghĩ các cháu không biết quý trọng tấm lòng của cha mẹ. Đó là do các cháu được nhà trường Tây dạy cho ý thức tự lập, không phụ thuộc nhờ vả ngay từ khi còn ở nhà trẻ.
Thay đổi tư duy
Vậy khi các cháu lớn ra khỏi nhà hết và có cuộc sống riêng thì chỉ còn hai ông bà ở với nhau trong ngôi nhà rộng lớn với nhiều tiện nghi và đồ dùng sang trọng... nhưng tuổi già ập đến kéo theo một đống bệnh tật mà ngày còn trẻ do mải lo kiếm tiền, cố tình “hoãn binh” lại không dám bớt thời gian để đi khám, phát hiện ra bệnh để sớm chữa trị.
Cũng có người biết mình có bệnh nhưng chỉ đối phó bằng nhiều cách chữa trị tạm thời kiểu “hoãn binh” vì lý do không có thời gian đi chữa bệnh. Thôi để khi nào rảnh rỗi có thời gian khám chữa sau cũng được, bây giờ phải kiếm tiền đã, ai làm hộ được cho.
Thuê người thì phải trả tiền công, thời buổi khó khăn tiếc tiền lắm... Đến lúc này chúng ta không thể quay ngược dòng thời gian để làm lại những việc với câu tiếc nuối nơi cửa miệng: "Giá như..." được nữa. Vậy thì chúng ta có sướng như Tây được chưa?
Người Việt làm nghề tự kinh doanh ở Đức thì làm gì có thời gian! Bán lẻ thì suốt cả tuần mải lo "cày bừa“, nếu không làm nghề dịch vụ thì được ngày Chủ nhật nghỉ làm phải dành thời gian cho bao nhiêu việc khác.
Người làm dịch vụ như quán xá hay hoa tươi thì không có ngày Chủ nhật. Những người làm nghề bán sỉ (giao hàng) thì không có thứ Bảy và Chủ nhật, được nghỉ một ngày trong tuần thì là ngày để giải quyết các việc của công sở chính quyền, con cái, nhà trường, mua sắm.... Nói chung là không có thời gian "thừa“ để đi khám bệnh nếu căn bệnh chưa quật ngã chúng ta.
Vậy thì những người được gọi là thành đạt hay như vài người gọi là "Đại gia“, họ có sướng như Tây hay sướng hơn cả những người Tây ở vào mức có thu nhập trung bình dù chỉ đủ ăn hay không? Câu trả lời chắc ai cũng đã có!
Đến khi nào chúng ta mới thay đổi được cách nghĩ để tự tạo cho chúng ta một "cuộc sống“ thực sự cho ra sống, cho mình, cho người bạn đời đã vất vả, lăn lộn với mình suốt mấy chục năm qua? Đến khi nào chúng ta, những người đang sống tại trời Tây mới thôi nếp nghĩ làm hộ, lo hộ, bảo hộ quá đáng cho con cái mình. Trong khi thực ra làm như vậy là vô tình làm hỏng con mình?
Nên nhớ quỹ thời gian của chúng ta, thế hệ thứ nhất U 55, U 60 không còn nhiều nữa!
Vậy thì chúng ta “đi Tây”nhưng đã "sướng như Tây” được hay chưa?
 ----------------------------------------------------
Nguồn Blog Trương Trác TẠI ĐÂY
Rất tiếc trong stt của mình cụ Trương Trác chưa công bố tấm hình minh họa nào !

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Để khắc phục bất bình đẳng trong lương hưu .

Nguyễn Ngọc Hùng
Calathau nói leo : Nguyễn Ngọc Hùng cựu HS (K1), vốn thân với Trần Kháng Chiến ( Vỡ Lòng ), Thông thạo tiếng Arập , chuyên gia về khu vực Trung đông . Ngọc Hùng mới tham gia sinh hoạt với Hội LSQL ( Tp.HCM) mươi năm gần đây nhưng rất nhiệt tình, đặc biệt thuộc rất nhiều bài hát thời " sol sol sol do sol ". Tuy đã nghỉ hưu nhưng Ngọc Hùng thường cộng tác với Báo Tuổi Trẻ ( bản in). ý kiến của NH về chuyện tăng lương cho những người hưu trí được cụ nêu ra từ năm 2013. Mấy lần QH bàn đến chuyện tăng lương là tác giả lại nêu lên ý kiến này. Tuy vậy Tuổi Trẻ "kiên trì" ...không đăng ! Chúng ta xem Nguyễn Ngọc Hùng nêu ra sáng kiến gì ?


Báo Tuổi Trẻ gần đây có bài nói về chuyện sắp tăng lương hưu vào năm 2016. Các cụ Làng Ta đều thuộc diện điều chỉnh của chuyện này.
Nhưng chuyện lương hưu cũng không đơn giản. Tôi xin góp một ý kiến của mình qua bài viết đã gửi Tuổi Trẻ 2 năm liền (2013 và 2014) mà đều không được đăng tải. Nay xin chia xẻ với Làng Ta cho vui vậy.

LƯƠNG HƯU NÊN TĂNG ĐỒNG HẠNG

Đọc bài “Bất bình đẳng trong lương hưu” trên trang 3, báo Tuổi Trẻ ngày 03/10/2013, tôi xin góp ý thêm về sự bất hợp lý khi tăng lương hưu.

Đã nghỉ hưu thì không còn làm ra của cải cho xã hội nữa. Người “nguyên” là chức to hay người “cựu nhân viên” cũng vậy thôi. Công lao, giá trị lao động khi làm việc đã được tính ra “lương hưu” bằng 75% mức lương của 5 năm đương chức cuối cùng; để có mức chênh lệch người thì nhận đôi ba triệu/ tháng; người thì dăm bảy triệu và hơn nữa. Vậy mà, sau khi nghỉ hưu rồi, cứ mỗi lần “tăng lương”, khoảng cách “đãi ngộ” giữa người cựu nhân viên với người “nguyên thủ trưởng” ngày càng cách xa.
Nói chung, nếu cả đời làm nhân viên thì khi về hưu, gia sản cũng thường không đáng kể; con cái không “ăn theo” được chức tước của cha mẹ nên cũng thường không khá giả gì. Nghĩa là nói chung, các cựu nhân viên phải sống bằng lương hưu của mình là chính.
Ngược lại, phần đông các “nguyên thủ trưởng” đã gây dựng được một “nền tảng” cuộc sống gia đình ổn định, nhiều trường hợp bề thế vững chắc. Không thiếu gì người về hưu hiện nay, lương hưu chỉ để cho các cháu nhỏ trong nhà ăn quà vặt. Họ có những nguồn thu nhập ổn định khác còn nhiều hơn lương hưu. Vậy mà mỗi lần tăng “lương hưu”, cùng một mức “phần trăm” như nhau, nhiều người hưu giàu có lại được nhận thêm số tiền hơn gấp mấy lần những người thực sự phải sống bằng lương hưu.
Chi bằng mỗi lần tăng lương hưu thì tăng đồng hạng. Cựu nhân viên hay “nguyên thủ trưởng” cùng nhận một số tiền tăng giống nhau. Nếu có thể tăng 20% quỹ lương hưu mà chia đều cho tất cả người hưu trí, thì chắc chắn những người lương hưu thấp sẽ nhận được số tiền tăng cao hơn là tính theo kiểu “phần trăm” của mức lương hưu đang được lĩnh. Còn những người vốn đã có lương hưu cao rồi, cũng được thêm ngang bằng với các bạn hưu trí của mình, không đi đâu mà thiệt./.
03/10/2013
NGUYỄN NGỌC HÙNG

(Người viết bài này hiện thuộc diện nếu tăng lương hưu 10% thì sẽ được nhận thêm 1 triệu/tháng. Cũng nghỉ như nhau mà mỗi lần tăng gấp mấy người khác, áy náy lắm!)

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

INTERNAT TP.HCM HỌP MẶT "3 TRONG 1" TẠI NHÀ MỚI CỤ TIẾN HOÀN

Phóng sự ảnh của Blogger Đặng thị Nhu từ Tp.HCM
(11/9/2015)

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm CMT8 và Quốc khánh 2-9 (1945-2015) , mừng bạn Tiến Hoàn chuyển vào tp.HCM , chào đón "cặp đôi hoàn hảo" Hòa-Phiến có chuyến "tư du" đột xuất Hà Nội- tp.HCM , toàn thể đội hình các lớp từ 1 đến 5 của Internat Moskva năm xưa đã hội tụ đông đủ tại căn hộ mới của bạn Tiến Hoàn ở quận 7.Đáng tiếc là vắng mặt 2 bạn : Chí Linh đang thi hành nhiệm vụ của Hội hữu nghị Việt-Xô tại Hà Nội và Quý lớp 1 (chưa rõ lý do) .Chủ nhà T.H trổ tài bếp núc sau nhiều năm "buông dao ,thớt " (vì có osin đảm nhiệm) vẫn tỏ ra là một người nội trợ tài năng ( tuy tay nghề hơi bị xuống cấp ) !Sau một đêm thao thức và một buổi sáng bận rộn ,trước mắt các "cụ khách " đã mở ra một bàn tiệc cực kỳ hoành tráng ,hấp dẫn .Nhiều món không đủ chỗ trên bàn ,phải tạm thời để trong bếp như: canh măng , bún , các  món bánh Huế , trái cây v.v ...

Comment của Nhật Lệ :
3 ý nghĩa trong một cuộc gặp mặt đã làm sống lại những thói quen nghịch ngợm, hồn nhiên của tuổi thơ Internat. Cuộc họp mặt tương đối đầy đủ, chỉ thiếu: Việt Nga, Cúc, Lưu Ba (nhớ mẹ, nhớ "bồ"- đi Hà Nội).
Các món ăn: truyền thống - rượu khai vị,(cụng ly), bánh mì đen + bơ, xa lát Nga, món "bản sắc dân tộc" - bánh Huế, bún măng chua, xôi đậu xanh, món hiện đại - cánh gà chiên bơ, colbaxa và GỎI CUỒN hình TẦU NGẦM kilo. Tráng miệng bằng nho Mỹ. Tất cả đều do hai bàn tay diệu kỳ của chủ nhà (đã thức trắng đêm để làm).
Chủ nhà do cảm động vì bạn bè đến thăm tương đối đông đủ, khi phát biểu xuýt khóc.
Còn KHÁCH cũng xuýt "KHÓC" vì hình dạáng gỏi cuốn giống "TÂU NGẦM KILO".
Nói chung RẤT ẤN TƯỢNG ! Chàng RỂ của Internat cũng cảm thấy không khí buổi gặp mắt rất chân tình và thân thiết.
Comment của Chủ nhà Lê Tiến Hoàn:
Trước tiên xin cảm ơn Nhu cũng như tất cả anh chị em có mặt hôm đó rất đầy đủ, có người lâu không gặp, nên chúng ta đã có một buổi họp mặt cực kỳ vui vẻ, ồn ào nhộn nhịp mà cảm động vô cùng. Cảm ơn sự quan tâm của các bạn (kể từ khi mình có ý định chuyển vào SG sinh sống cho đến khi chuyển xong vào ở hẳn trong này và đến tận hôm nay. Cảm ơn những món quà của tập thể và mọi người, cùng những lời chúc tốt đẹp. Cảm ơn hai "cụ" Hòa Phiến đã cất công đem chai Sâm banh Nga từ HN vào chúc mừng, mà tiếc là không được nổ. HiHi!!
----------------------------------------------------
Mời các cụ quan tâm có thể vào xem nhiều hình ảnh phong phú tại địa chỉ sau đây :

Nhân ngày "Thơ Lục Bát Việt Nam" 2015

TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU 3 BÀI THƠ CỦA 3 TÁC GIẢ LÀNG TA


                                                                            ( Viết tặng T )

Nàng mong nén chặt nỗi buồn
Bôi vôi, thả giếng rồi buông... Cả cười!
 Ai dè gió thổi ngược suôi
Lật tung xác lá tìm thời cũ xưa...



 Biết là cải đã thành dưa
Mà sao vẫn trộn thiếu thừa vào nhau
Biết là đò mỏng bến sâu
Mà sao vẫn đợi qua cầu gió bay...



 Buồn, Nàng vui với giọt cay
 Vui, Anh sao lẫn những ngày buồn tênh?
Vui- buồn lắm nỗi nổi nênh
Sông quên bến nhớ, rồi đành xa nhau ...


Giao mùa tóc trổ hoa cau
Nhìn chim tha nắng* dạ đau tím chiều
Thả buồn, đáy giếng xiêu xiêu
Vẳng nghe tiếng gọi... lời yêu
vọng về.

                                                                      Song Thu 
                                                                      Tháng 9/2015

                                      Có phải em mùa thu vàng ?
                                      Cho tôi thoáng chút bàng hoàng ...nhớ ai.
                                      Đâu rồi mái tóc bay bay
                                      Đâu hương hoa sữa say  say lòng người
                                      Mùa thu đâu của riêng tôi
                                      Mà sao lòng vẫn bồi hồi nhớ mong
                                      Heo may gió gọi mùa sang
                                      Có phải em mùa thu vàng đó chăng ?
                                                                            Thạch Quân 
                                                                           HN 15/9/2015

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

ĐỌC SÁCH "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn" ( Bài 2)

Nhà khoa học bỗng dưng viết…tiểu thuyết dã sử
Phạm Quang Đẩu
        (nguyên văn đăng trong Bán Nguyệt San "TINH HOA VIỆT" số 6, ra 25/6/2015)
Ông vốn là bạn quen lâu năm của tôi. Ngày ông còn là viện trưởng một viện thuộc Viện Khoa học Việt Nam, ông đã nổi tiếng là người luôn đi tiên phong trong chế tạo các thiết bị điện tử tinh vi đạt chuẩn quốc tế, như lần đầu tiên ở nước ta viện của ông đã làm được kính hiển vi điện tử “hiệu ứng đường hầm”có thể nhìn thấy vật thể ở kích thước phân tử…Ông về hưu gần chục năm nay, vẫn chưa ai thay được cái chức “Chủ tịch hội đồng khoa học viện…” Một nhà khoa học tài năng thực sự. Ấy vậy mà mới rồi ông đưa tôi tập bản thảo dầy dặn, bảo: “Anh xem và cho ý kiến”. Tôi ngạc nhiên vì đấy lại là một cuốn tiểu thuyết dã sử, chẳng liên quan gì đến chuyên môn của ông. Tác giả lấy bút danh “Thâm giang Trần Gia Ninh”(Ông yêu cầu tôi không nêu tên thật) và tựa tiểu thuyết là “Huyền thoại kim thiếp Vũ Môn”. Cuốn tiểu thuyết sinh động, hấp dẫn, mô tả thời kỳ lịch sử ở nước ta cách nay hơn 600 năm. Vào cuối quý 1-2015, Nhà xuất bảnVăn học đã ấn hành cuốn tiểu thuyết này và chỉ sau khi ra mắt bạn đọc được ít bữa, Nhà xuất bản Văn học lại cùng Nhà xuất bản Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh thính nhạy với thị trường văn hóa đọc, đã đề nghị tác giả cho được phối hợp tái bản cuốn sách…

 Huyền thoại kim thiếp Vũ Môn được viết theo kiểu chương, hồi như Tam Quốc diễn nghĩa hay Thủy Hử vốn quen thuộc với bạn đọc nhiều thế hệ ở nước ta. Nhưng tác giả đã “lưu ý” tôi trước: Tam Quốc diễn nghĩa vốn được coi là “bảy thật, ba giả”, còn cuốn này ông viết dựa trên chính sử  nước ta, cộng thêm sử liệu nhà Minh, có cả bản tiếng Anh do sử gia phương Tây viết và cả thần phả, gia phả các dòng họ ở địa phương. Vậy nên “giả” rất ít,  “thật” khá nhiều. Chẳng thế mà, dịch giả tiếng Trung có uy tín, là nhà văn Trần Đình Hiến(Người dịch hầu hết các tác phẩm của Mạc Ngôn đoạt giải Nobel) vừa đọc xong tác phẩm của Thâm giang Trần Gia Ninh, đã gọi điện ngay cho tôi, câu đầu tiên ông đánh giá: “Nguồn tư liệu từ sử sách và điền dã  cực tốt!”
Cuốn sách hơn 400 trang khổ lớn, với 14 chương và 35 hồi kể chuyện những anh tài tinh hoaViệt ở một giai đoạn lịch sử gần  30 năm của thế kỷ 15, mà thời đó nước ta gọi là Giao Chỉ. Nhà Trần đến giai đoạn suy vi, giặc Minh xâm lược và nổ ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau 10 năm nằm gai nếm mật Lê Lợi đã lên ngôi hoàng đế, lập nên triều đại mới. Mạch truyện được bắt đầu từ việc Minh Thành Tổ cất quân thôn tính Giao Chỉ, đánh bại nhà Hồ, Hồ Nguyên Trừng con trai cả của Hồ Quý Ly dâng bí quyết chế tạo súng thần cơ và được trọng dụng. Từ đây hé lộ một dụng ý xuyên suốt của tác phẩm, là viết về những nhân tài khoa học công nghệ của nền văn minh Việt đã rực rỡ thời đó. Ngay từ thế kỷ 15, người Giao Chỉ đã đi đầu trong việc luyện kim, rèn kiếm sắc, đúc súng thần cơ, pha chế thuốc nổ… Và nhờ công nghệ vũ khí cướp được ở Giao Chỉ, năm 1410 Minh Thành Tổ đã đánh bại đội quân hùng mạnh của người Tacta từng tung hoành khắp miền Trung Á rộng lớn. Nhưng, kẻ xâm lược phương Bắc mưu kế hiểm độc, ngày đó còn có chủ ý bắt người tài Giao Chỉ đem về phục vụ cho mục đích chiến tranh của chúng, đồng thời hủy diệt nền văn hóa bản địa để dễ bề cai trị bằng chính sách ngu dân. Lâu nay sử sách của ta cũng từng nhắc đến người con cả của Hồ Quý Ly, ở phần mở đầu cuốn Huyền thoại…cũng nêu nỗi lòng, thân phận nhà kỹ thuật cận đại này khi bị cầm tù ở phương Bắc. Song không dừng lại ở việc miêu tả một nhân vật có tài nhưng hèn nhát, yếm thế như vậy, tác giả lần đầu tiên đưa ra một hệ thống nhân vật là những nhà kỹ thuật tài giỏi khác cùng thời, có người là bạn đồng môn với Hồ Nguyên Trừng, họ có lòng yêu nước, quyết đem trí tuệ cống hiến cho đất nước, đánh đuổi kẻ xâm lăng bờ cõi. Về luyện thép, rèn kiếm có: Trần Hằng, La My, Ba Lậu Kê (đạo sĩ Bà La Môn, gốc Ấn Độ), Trần Hà Ất…; về điều chế thuốc súng, tạo khí cụ nổ có Trần Quốc Trung, Nguyễn Thời Kính, Nguyễn Tuấn Thiện…Họ đã đồng tâm hiệp lực với những những tướng tài, mưu sĩ giỏi trong các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược, là những nhân vật lừng danh trong sử sách như: Nguyễn Chích, Lê Văn Linh, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Bùi Bị, Đinh Liệt, Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Súy…Nhân vật Lê Lợi được ngòi bút của tác giả miêu tả khá chân thực, một minh chủ, có cơ mưu lại biết trọng dụng người tài, cuối cùng lập được kỳ công để lên ngôi hoàng đế (Nhưng tiếc thay, lúc thời bình vị vua xuất thân từ kỳ hào đó lại không còn chí công vô tư như thời nằm gai nếm mật, mà nghe lời xiểm nịnh hãm hại những công thần bậc nhất như Nguyễn Chích, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi). Cũng khá ngạc nhiên khi trong cuốn sách vai trò phò tá mưu lược hàng đầu lại thuộc về những người ít được thời nay nhắc tới là  Lê Văn Linh, Nguyễn Chích chứ không phải chỉ là Ức Trai Nguyễn Trãi. Ta còn gặp trên từng trang viết các nhân vật lịch sử phản diện đa dạng về tính cách, hành vi ứng xử như: Sái Phúc, Hoàng Trung, Mã Ký, Vương Thông, Liễu Thăng…Chúng vừa tham lam, tàn bạo lại sẵn mưu ma chước quỷ đã gây nhiều nợ máu với lê dân trăm họ ở dải đất miền Trung nước ta ngày đó, thuộc các châu Hoan, Ái, Hóa… Một nhân vật lịch sử như Phan Liêu, khi đánh giá về cuộc đời, số phận, công tội của hắn, các sử gia còn tranh cãi đến tận hôm nay. Phan Liêu tuổi trẻ, tài cao vốn là con nuôi một đại thần thời Hậu Trần lúc đó đang trấn thủ Nghệ An. Tướng Minh Trương Phụ đánh Nghệ An, Phan Liêu ép cha nuôi đang lúc ốm yếu đầu hàng, phò tá giặc giết Nguyễn Biểu, bắt vua Trần Trùng Quang và Đặng Dung. Y còn bày mưu cho Sái Phúc vây bắt thợ giỏi và con gái đẹp đưa về thiên triều, rồi phá tan cả làng nghề rèn Kẻ Chàng, Kẻ Treo. Sau thấy mình công to mà không được trọng dụng, y phản lại nhà Minh, dựng cờ khởi nghĩa nhưng không thành, phải trốn chạy vào rừng. Trước đấy, trong một trận giúp quân Minh vây đánh làng Kẻ Treo, bất ngờ y gặp và cứu được cô gái Xuân Liên, tài sắc vẹn toàn và y đem lòng yêu. Chính nhờ được Xuân Liên khuyên nhủ, y đã quay lại chống giặc Minh. Khi đã gia nhập nghĩa quân Lê Lợi, thành thân với Xuân Liên, chiếm được thành Đỗ Gia, ngẫu nhiên y mới biết chính mình là kẻ đã giết cha Xuân Liên trong cuộc đàn áp nghĩa quân trước đây, thì trong lòng rất ân hận. Ruốt cuộc, y đã tìm đến cái chết trong một trận đánh để chuộc lỗi lầm. Rõ ràng đây là nhân vật phức tạp, được khắc họa sâu, đậm nét. Có thể kể thêm một nhân vật phản diện khác được cuốn sách miêu tả khá thành công, là Sái Phúc. Đó là một kẻ xâm lược có đầu óc thực dụng, không từ một thủ đoạn tàn bạo nào để làm đẹp lòng hoàng đế Trung Hoa. Ở hệ thống nhân vật chính diện, ngoài Lê Lợi như trên đã nói, các danh thần triều Lê như Nguyễn Chích, Lê Văn Linh, Bùi Bị, Nguyễn Súy…được miêu tả võ công cũng như tính cách khá đậm nét, chỉ tiếc rằng không nhân vật nào đạt tới một chân dung hoàn chỉnh.
 ( Ảnh bên :Tác giả khi còn là nhà khoa học, đang chỉ đạo học trò thực hành chế tạo thiết bị trong phòng thí nghiệm )

 Huyền thoại kim thiếp Vũ Môn được viết theo lối kể chuyện, tiết tấu nhanh, không nặng về miêu tả diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật. Nhưng không vì vậy mà cuốn sách kém hấp dẫn bởi thiếu những “điểm nhấn” cần thiết. Ta gặp ở đây vô số những tình tiết đặc sắc, mới lạ về truyền thống thượng võ của người Giao Chỉ, về mối quan hệ thuần phác, sòng phẳng giữa người với người thời đó, về phong tục tập quán, cảnh quan môi trường…Như ở chương 9 “Bạch Ngọc sơn trang. Tuấn Thiện nhập làng…” miêu tả quá trình tìm hiểu, điều chế thuốc súng của một nhóm các tướng trận mạc, kiêm “nhà công nghệ” là những trang viết thật sinh động, độc đáo, tác giả vốn là nhà khoa học nên miêu tả quá trình điều tra, tìm hiểu các thành phần của thuốc súng cho hỏa hổ, hỏa tiễn, pháo nổ là rất cụ thể, chính xác. Đoạn văn ở trang 246, về trận thư hùng diễn ra trên thuyền trong một đêm trời đầy sao giữa biển của viên tướng trẻ nhà Minh Hàn Uy với đại tướng quân “Nụy khấu” Nguyễn Súy thật hấp dẫn, tưởng như ta được đọc trong những sách kiếm hiệp nổi tiếng thời xưa. Một “đặc sản” nữa của cuốn tiểu thuyết là những miêu tả về tình yêu lứa đôi. Đó là mối tình Hà Ất-Mai Ly trong sáng tuyệt vời bên thác Vũ Môn; mối tình dang dở song thơ mộng của quận chúa Huy Chân và dũng tướng Nguyễn Tuấn Thiện; mối tình oan trái,  bi kịch của Xuân Liên-Phan Liêu; mối tình đượm màu huyền bí, siêu thoát của Hàn Uy- Hà Hoa lập nên dòng họ Samurai ở nước Lưu Cầu (sau thuộc Nhật Bản)…Tác giả không chủ ý làm văn chương, song đôi khi ta gặp những đoạn miêu tả khá văn chương. Như nói về cái chết của “nhà kỹ thuật” ẩn danh Trần Hằng trong rừng sâu đượm vẻ bi hùng: “Lúc đó trời đất tối sầm, giông tố ầm ầm. Một tiếng sét vang động núi rừng. Sét đánh vào ngọn cây trầm cổ thụ cao nhất, lửa cháy rực. Kỳ lạ, lửa chỉ cháy một khoảng rừng nhỏ, làm đổ mấy cây trầm xuống cháy khô, chất thành một đống như có người sắp xếp, rồi tắt hẳn bên cạnh một tảng đá lớn. Hà Ất đặt xác cha lên đống gỗ trầm đó, phủ lá trầm lên rồi châm lửa. Ngọn lửa bùng lên, thấy mùi hương trầm lan tỏa khắp nơi, phút chốc chỉ còn lại đám tro tàn của hài cốt. Thu dọn tro cốt cho vào hộp đâu đấy, Hà Ất lấy kiếm đẽo gọt tảng đá…”(trang 133). Hay khi tả thác Vũ Môn: “…những hôm trời quang mây tạnh, đứng ở chân núi nhìn lên trông như gắn vào trời xanh một giọt nước khổng lồ, tách hẳn lòng suối, từ trên cao đổ vào khoảng không làm thành cái chài hình cung chụp xuống dài khoảng trăm thước để chắp nối với lòng suối ở bậc dưới”(trang 154)…Cũng cần phải nêu thêm một dụng công của tác giả về sử dụng ngôn ngữ, sao cho phù hợp với ngôn ngữ của người sống cách nay 6 thế kỷ. Gặp rất nhiều thổ ngữ trong câu thoại của các nhân vật, như: con khái tức con hổ, ló-lúa, mấn-váy, cân gấy-con gái, trụt-dốc…Hoặc những mô tả khá tỉ mỉ về  trang phục thời ấy: “Khố bằng vải gai, bẹ cau hoặc da hươu thắt qua háng từ trước ra sau…”; “Đàn bà con gái ở nhà thì ngực trần, đi xa đeo yếm vuông bằng vải gai hoặc da hươu che đến rốn. Phía dưới cũng không khoác gì, cách rốn một quãng thì đeo một cái túi nhỏ hình chữ nhật, có tua, to bằng bàn tay, vừa để che mình dưới một cách lỏng lẻo, vừa để các thứ lặt vặt”…
Tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh thăm Bích Động 9/2010 (Ảnh Calathau) 

Trong các giấy tờ ông nội tác giả vốn là một nhà nho mù nổi tiếng vùng Hương Khê(Hà Tĩnh) để lại, có hai câu Hán Nôm “Kim thiếp”, nhiều năm sau con cháu không hiểu được nghĩa. Trong quá trình tích lũy tư liệu để viết cuốn tiểu thuyết chương hồi này, cuối cùng thì tác giả đã hiểu được, đó chính là thương hiệu của một loại thép “chém sắt như bùn”mà tổ tiên từng luyện được ở chân núi Vũ Môn. Và “Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn”, chính là câu chuyện sáng tạo kỳ diệu về “Thép Vũ Môn” của con dân nước Việt hơn sáu trăm năm trước.
Quê hương tác giả có thác Vũ Môn vắt trên lưng chừng núi Giăng Màn, giờ đứng ở thị trấn Hương Khê vẫn nhìn thấy. Hiện còn, cây thị nghìn tuổi đã chứng kiến Hội thề giữa chủ tướng Lam Sơn Lê Lợi với chủ tướng Cốc Sơn Nguyễn Tuấn Thiện; đền thờ Bạch Ngọc Hoàng hậu và Quận chúa Huy Chân; xóm Lò nơi luyện sắt đúc súng vẫn còn tên và dấu tích xưa ở Gia Phố…Đặc biệt, ngôi nhà thờ dòng họ Trần của tác giả vẫn còn lại trên nền đất cũ nhìn ra sông Ngàn Sâu, nơi mà 600 năm trước Trần Hà Ất-Mai Ly đã chọn dựng nhà, khởi đầu cho dòng họ Trần Gia Phố. Bao nhiêu năm nay tác giả âm thầm tích lũy tư liệu và nghiền ngẫm, “Cuối cùng thì tôi đã tráp lại thành quyển sách mỏng này như là tấm lòng của kẻ hậu sinh ghi nhớ về tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Và cũng mong góp chuyện gẫu cho kẻ sĩ lúc nhà du”(Mấy lời cẩn bạch & Dẫn nhập).
Tuy  tác giả nói vậy, nhưng  tôi không cho rằng quyển sách này chỉ có “kẻ sĩ” mới đồng cảm, mà chắc hẳn nhiều bạn đọc đều có thể trải nghiệm và chia sẻ tấm lòng yêu quê hương, đất nước. Khi nhà khoa học của chúng ta cho ra mắt tác phẩm đầu tay là một cuốn tiểu thuyết dã sử đề cao tài-trí Việt với một nội dung thật độc đáo, sinh động, hấp dẫn như vậy, phải chăng đây chính là một “hiện tượng” bất ngờ, thú vị cho văn học hôm nay?
                                                                                
  Hà Nội 6-2015