Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

GS Tương Lai góp ý cho DH Dảng lần thứ XII - (Kỳ 1)

GÓP Ý KIẾN VÀO QUÁ TRÌNH TIẾN ĐẾN
ĐẠI HỘI LẦN THỨ XII CỦA ĐẢNG

( Cụ Nguyên Hân cho biết, sau 1 thời gian phải đi BV điều trị bệnh, GS Tương Lai đã bình phục trở về nhà và tiếp tục cho ra bản tin số 43. Trong bản tin này có 1 bài nghiên cứu khá dài và đầy đủ, phân tích sâu sắc  những vấn đề thuộc lý luận mà lâu nay các cụ Làng mình - dù đều đã nghỉ hưu - nhưng vẫn thường quan tâm . Lại nghe nói đây là bài  "TW đặt hàng" GS Tương Lai " viết để  đóng góp ý kiến" với đảng nhân đại hội  lần thứ XII sắp tới . Tuy đặt hàng, nhưng tác giả không có tên trong danh sách mời  tham gia hội thảo .
Xin nói thêm, GS Tương Lai, mà dân QL-KHXNN và Internat chúng ta đều quen thuộc, biết tiếng . Nhiều người là bạn thân với ông từ thời học tập ở nước ngoài và về làm việc trong nước . Hơn thế, ông còn là cậu ruột của bạn đặng Nguyệt Anh, người bạn  thân thiết cùng K5 với chúng ta. Vì thế , trong thâm tâm chúng ta vừa kính trọng sự hiểu biết sâu rộng của ông vừa thân tình như người " trong nhà".
Dưới đây là những góp ý của ông vào quá trình tiến tới Dại hội lần thứ 12 của đảng CSVN.

Đã có khá nhiều ý kiến đóng góp về Văn kiện sẽ đưa trong Đại hội XII của Đảng, về quy trình bầu cử và chuẩn bị nhân sự cũng như nhiều vấn đề cụ thể khác. Tôi không có điều kiện đọc hết, nhưng qua một số bài tìm thấy trên mạng, đã có rất nhiều những ý kiến sâu sắc và rất thuyết phục như ý kiến của ô. Nguyễn Thu Giang – Đoàn luật sư Tp HCM, nguyên phó GĐ Sở Tư Pháp Tp HCM về ứng cử, đề cử của cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư hay ý kiến của ô. Lê Công Giàu ở  Chi bộ Ấp 4B, KDC Trung sơn, Xã B.Hưng, H.Bình Chánh, TpHCM cô đọng, ngắn gọn mà rất sâu sắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp thiết thực và cụ thể hết cần thiết rất đáng trân trọng đó, cũng rất cần những đóng góp về cơ sở lý luận của việc xây dựng Báo cáo chính trị và Quy chế lựa chọn nhân sự với những quy trình ứng cử, bầu cử từ cơ sở đến Đại hội thì tôi chưa đọc được, cũng có thể đã có nhưng tôi chưa tìm thấy. Vì thế, trong ý kiến đóng góp với quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII, tôi muốn góp thêm vào chủ đề này. Với tư cách một người làm nghiên cứu, tôi sẽ cố gắng tiếp cận từ bình diện lý luận gắn với thực tiễn để trình bày ý kiến đóng với Đảng và cũng qua đó mong nhận được sự thẩm định của công luận về những ý tưởng đã trình bày và những kiến nghị với Đại hội XII. Tôi sẽ tập trung trình bày mấy vấn đề sau đây:

•    Từ bỏ mô hình đã lựa chọn sai, mô hình Xã hội chủ nghĩa.
•    Từ bỏ cái gọi là “Chủ nghĩa Mác-Lênin
•    Trung thực và nghiêm túc thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1.    Về Chủ nghĩa xã hội”.

Cách đây 6 năm, năm 2009, theo lời mời của ô. Chủ tịch Hội đồng lý luận TƯ, trong một tham luận gửi đến Hội thảo về “Phương pháp luận nghiên cứu “Chủ thuyết phát triển” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh” do Hội đồng này tổ chức tại tpHCM, tôi đã trình bày rõ: “hiện nay, loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực. Hai thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội”, thì một không còn phản ánh một thực tế nào nữa, và một thì chưa hề phản ánh một thực tế nào cả. Cái thứ nhất là “chủ nghĩa tư bản”, cái thứ hai là “chủ nghĩa xã hội”! *
Cũng có nghĩa là mục tiêu mà chúng ta, nói đúng hơn là Đảng áp đặt cho cả dân tộc ta, cho toàn xã hội phải hướng tới một mục tiêu mù mờ để ra sức xây dựng. Sự mù mờ đó thì chính ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói ra chứ chẳng phải ai khác khi ông phát biểu rằng không biết đến hết thế kỷ XXI thì liệu đã có CNXH chưa! Cho dù vậy, ông vẫn áp đặt cái “Cuơng lĩnh xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, gọi tắt là Cương lĩnh 91” vào trong Hiến pháp 2013 vì ông ta đặt Cương lĩnh của Đảng cao hơn Hiếp pháp! Chuyện này thì báo Tuổi Trẻ đã đưa rất rành rọt, “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” như sau "Tại cuộc tiếp xúc cử tri này, Tổng bí thư cho biết trong kỳ họp sắp tới Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Đây là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng, là đạo luật gốc...”.
Có lẽ sẵn cái trớn này và cũng là noi gương ông, có vị bộ trưởng, Uỷ viên TƯ Đảng trong buổi nói chuyện với các vị lãnh đạo Thành phố tại Học viện Chính trị Quốc gia TPHCM đã nói thẳng thừng “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”!
Một vị Thứ trưởng phát biểu tại hội thảo khoa học “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý đối với Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới, và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 22/12/2014) cũng nói lên một băn khoăn rất thật: “Tôi cứ suy nghĩ mãi một điều, nếu chúng ta đi mà không rõ đi đâu, bằng cách nào, bao giờ đến… thì không bao giờ chúng ta đi nhanh và bền vững được”. Nói là “rất thật”, vì sau nhiều thập kỷ đi theo cái gọi là ‘kinh tế thị trường định hướng XHCN’ mà càng đi càng không biết nó là cái gì thì làm sao mà đi tới được.
Đúng là cái mô hình XHCN “mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”, thế nhưng suốt mấy thập kỷ qua, Đảng vẫn áp đặt cái mô hình đó lên toàn xã hội, chẳng những thế lại đòi hỏi tất cả mọi người Việt Nam, kể cả những người Việt Nam đang sống ở nước ngoài muốn Yêu nước thì phải Yêu chủ nghĩa xã hội. Oái oăm hơn nữa, áp đặt một cách hết sức khiên cưỡng lên tôn giáo, tín ngưỡng khi đòi hỏi Phật tử Phật giáo Việt Nam phải phát huy truyền thống “hộ quốc an dân” với phương châm Đạo pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội . Thử hỏi còn gì quá ngớ ngẩn hơn không và cái “Chủ nghĩa xã hội” gắn với “Đạo pháp” là thứ “Chủ nghĩa xã hội” gì, hình thù, diện mạo ra sao? Các nhà lý luận chính thống chắc cũng khó rao giảng về cái “chủ nghĩa xã hội” tạp pí lù này!
Gs Trần Phương, một nhà lý luận của Đảng, nguyên Chủ nhiệm Uỷ Ban Khoa học Xã hội Việt Nam [nay là Viện Hàn lâm KHXHVN], nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, trong một Hội thảo của Hội Kinh tế Việt Nam đóng góp ý kiến vào Văn Kiện Đại hội XI trước đây, đã đề cập đến chủ đề trên một cách dung dị, thẳng băng không úp mở, đúng hơn là “huỵch toẹt” ra cho dễ hiểu như sau:
“Thế bây giờ cái CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác! Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái CNXH mà chúng ta sẽ đi là cái CNXH gì đây? Có nhiều người bảo rằng thôi thì ta cứ đành lấy khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh", đó là CNXH.
Tôi xin lỗi ông. Đấy không phải CNXH! Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôi hỏi anh: anh đã bằng [ ] Thụy Điển và [ ] Na Uy chưa? Nó không xã hội chủ nghĩa cũng công bằng, mà công bằng hơn ông, mà văn minh thì tất nhiên là hơn ông rồi. Thế thì cái CNXH mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh" mấy cái câu đó mà thay thế cho CNXH, đấy là CNXH của tớ đấy! Tôi nghĩ không đúng. Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của ông”!
Trên thực tế thì hệ thống XHCN đã sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ còn lại cái hình hài đã biến dạng tại Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba và Bắc Triều Tiên! Mà sụp đổ là do đã chọn cái gọi là Chủ Nghĩa Mác-Lênin làm “kim chỉ nam”. Trong tham luận nói trên, tôi đã trình bày rõ: “trong quãng thời gian từ tháng 5/1975 đến nay [2009], đất nước ta đã tụt hậu như thế nào so với những nước châu Á có cùng một trình độ kinh tế như nước ta, thậm chí xuất phát điểm của họ còn thấp hơn của ta, nhưng vì họ không cần đến “kim chỉ nam” như ta nên họ đã vượt xa ta. Mà với “kim chỉ nam” đó, để đuổi kịp Hàn Quốc hay Singapore, ta phải phấn đấu liên tục trong 30 năm với giả dụ trong thời gian đó họ dậm chân tại chỗ để đợi ta! *
Thế rồi oái oăm hơn khi chỉ còn lại có mấy nước “anh em” vừa liệt kê ra trên đây, thì một ông lãnh tụ trẻ cũng ở bán cầu phía Đông đang bận rộn thanh toán đối thủ chính trị bằng những thủ đoạn tàn khốc như tử hình đại tướng bộ trưởng Quốc phòng bằng đại bác khiến cả nước và thế giới khiếp vía với cái “Chủ nghĩa xã hội” của ông lãnh tụ tối cao, hậu duệ của hai đời lãnh tụ tối cao lão thành đã quy tiên đang kiên trì xây dựng còn một ông lãnh tụ khác ở bán cầu phía Tây thì lại đang “xoay trục”.
Thì chẳng phải vừa rồi ở Cuba, Chủ tịch Raul Castro, em ruột của lãnh tụ tối cao Phiđen đang là “thái thượng hoàng”, đã nắm chặt tay Tổng thống Hoa Kỳ khi Obama đi một nước cờ cao, đã chìa tay ra với người cộng sản kiên định ở sát cạnh mình, thế rồi nhân dân Cuba vỗ tay rầm rầm chào đón sự kiện động trời này sau hơn nửa thế kỷ chờ đợi đó sao?
Nhưng còn “động trời” không kém khi người cộng sản Cuba kiên định Raul Castro kia đã sẵn sàng từ bỏ nguyên tắc để sẽ “sẽ trở về với giáo hội”. Xin trích nguyên văn phát biểu của Chủ tịch Cuba vào sáng chúa nhật 10.5.2015, sau khi Giáo hoàng Francis tiếp và hội kiến riêng hơn 50 phút đồng hồ như sau :
“Tôi đã đọc tất cả những bài diễn văn và các văn kiện của Đức Giáo Hoàng, và tôi nói với Thủ Tướng rằng nếu Đức Giáo Hoàng tiếp tục con đường đó, tôi sẽ trở lại cầu nguyện và tôi sẽ trở về với giáo hội, và tôi không nói đừa đâu.” (if the pope continues this way, I will go back to praying and go back to the church, and I'm not joking). Ông nói tiếp: "Tôi xuất thân từ đảng Cộng sản Cuba, là đảng không cho phép các đảng viên theo đạo, nhưng bây giờ chúng tôi đã bỏ cấm đoán này, đó là một bước quan trọng". (I am from the Cuban Communist Party, that doesn't allow (religious) believers, but now we are allowing it, it's an important step).
Sự kiện trên gợi nhớ lại cái mệnh đề bốc đồng của một thời về hai nước XHCN Việt Nam và Cuba, hai pháo đài của CNXH ở Đông và Tây bán cầu với sứ mệnh cao cả là hai pháo đài vững chắc của thành trì XHCN thế giới, vì thế mà tự nhận nhiệm vụ “anh thức tôi ngủ” để canh cho sự an toàn của hệ thống XHCN. Có lẽ cả hai thức trắng đêm canh gác quá lâu cho sự an toàn của chủ nghĩa xã hội đã ngủ gật nên để cho hệ thống sụp đổ tan tành! Thế là hình như chỉ còn lại 3 nước kiên định XHCN là Lào, Trung Quốc và Việt Nam chúng ta, những nước “núi liền núi, sông liền sông”.
Khoan hãy nói đến Lào và Việt Nam, chi xin gợi lên vài nét về nước XHCN khổng lồ, người bạn láng giềng cùng chung ý thức hệ với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thời Đặng và đương kim Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thời Tập.
Với lý thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng, rồi luận điểm “nhất quốc lưỡng chế, một nước hai chế độ, nền kinh tế Trung Quốc đã dần dần trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 của thế giới để đến thời Tập Cận Bình với “giấc mơ Trung Hoa”, siêu cường mới tự giới thiệu với thế giới một “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” nhưng thực chất là một “Chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc”.
Theo Financial Times hôm 1.6.2015 dẫn lời François Godement của European Council on Foreign Relation, một chuyên gia kỳ cựu về Trung Quốc cho rằng : Từ hai năm qua, Tập Cận Bình đã chứng tỏ quyền uy cả trong nước lẫn ngoài nước. Trong một Trung Quốc toàn cầu hóa, ông ta cao giọng rao giảng những luận điệu vốn đã dân tộc chủ nghĩa đến cực độ. Mượn danh chống tham nhũng, Tập Cận Bình trừ khử tất cả các đối thủ thực sự hay tiềm năng. Lo sợ sự tương phản quá mức trong một nền kinh tế đang cải cách, vừa tạo ra của cải vừa gây thêm bất bình đẳng, hay một « xã hội dân sự » được thúc đẩy bởi những làn gió mới bên ngoài, Tập Cận Bình bóp nghẹt tất cả phong trào đối lập, biện minh bằng « chủ nghĩa xã hội theo kiểu Trung Quốc ».
Từ sau khi thời đại Mao chấm dứt, Trung Quốc chưa bao giờ trong tình cảnh bị siết chặt đến thế về an ninh và ý thức hệ. Dự luật an ninh quốc gia vừa được công bố gồm cả chống lại « những giá trị phương Tây » và « ảnh hưởng nước ngoài ». Tập Cận Bình bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của Liên Xô với cơn ác mộng Gorbachev.
François Godement nhận định rằng : ông Tập vừa muốn « hiện đại hóa Nhà nước độc đảng » hay chính xác hơn là « tái khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ».Theo ông, chủ trương của Tập Cận Bình: « Chấp nhận chủ nghĩa cá nhân, xã hội tiêu thụ và một số biện pháp tự do hóa nền kinh tế, miễn là không đụng chạm đến Nhà nước độc đảng». Đó là những nghịch lý của “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”.
Xem ra những ai đó trong bộ máy quyền lực, ngưỡng mộ cái mô hình XHCN này của Tập, đang cố áp đặt mô hình ấy vào nước ta khi mà uy tín của Đảng trong dân, kể cả trong nhiều đảng viên hiểu rõ về thời cuộc, đã xuống đến tận đáy. Liệu có phải họ cũng muốn đi theo những chỉ dẫn của Tập, mượn danh chống tham nhũng, trừ khử tất cả các đối thủ chính trị thực sự hay đang ở dạng tiềm năng. Ho sợ sự tương phản quá mức trong một nền kinh tế đang cải cách, vừa tạo ra của cải vừa gây thêm bất bình đẳng kéo theo sự mất ổn định xã hội, họ sợ một « xã hội dân sự » được thúc đẩy bởi những làn gió mới bên ngoài, nên chủ trương bóp nghẹt tất cả những xu hướng dân chủ hoá chống lại sự độc tài phản dân chủ, phản tiến bộ rồi biện minh bằng luận điệu hàm hồ là “kiên định con đường mà Bác Hồ đã chọn”! Bác chọn cái gì, xin sẽ nói tiếp ở mục thứ ba.
Nhân chuyện Cuba và những điều vừa dẫn ra, tôi lẩn thẩn tự đặt câu hỏi, không hiểu vào dịp sắp tới khi ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, câu chuyện của Raul Castro vừa gợi lên đây có khiến ông phải cân nhắc giữa viêc kiên trì định hướng XHCN với “nhà nước pháp quyền định hướng XHCN” mà ông từng kiên quyết không chấp nhận trong đó có “tam quyền phân lập”. Thậm chí những ai đòi hỏi cần phải có nguyên tắc cơ bản đó thì mới có nhà nước pháp quyền đúng với nghĩa của nó thì ông quy vào tội suy thoái tư tưởng, đạo đức và phải “quan tâm xử lý” 1. Đăc biệt là đối với sự vận hành cái gọi là kinh tế trị trường định hướng XHCN thì chắc cái định hướng này sẽ buộc phải xem xét lại với luật chơi mới của TPP khi Việt Nam đang phấn đấu quyết liệt để trở thành một thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương đó. Xin dẫn ra đây một mẩu tin vừa đọc được trên “Thời báo Kinh tế Sài Gòn” :  “Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mai vừa trở về từ cuộc đàm phán song phương Việt Nam - Hoa Kỳ về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ở Washinton DC hôm Chủ nhật 27-4, nói ông lo ngại “thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay không tương thích với TPP”. Ông giải thích: “Ví dụ, trong TPP đề cao vai trò của xã hội dân sự, đề cao sự tự do thành lập các hiệp hội. Đây là vấn đề rất nhạy cảm về chính trị với chúng ta”.Nếu vì về vấn đề rất nhạy cảm về chính trị” này động chạm đến sự kiên định mục tiêu XHCN mà ông Tổng Bí thư lại để vuột mất thời cơ một đi không trở lại để tạo ra một bước đột phá, đưa đất nước đi tới trong bối cảnh
___________________________
1.    Mời xem lại Thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 28.2.2013 của Tương Lai

mới thì chưa chừng, để tránh được xem là tội dồ của lịch sử mà là người thúc đấy lịch sử, ông phải tham khảo bước đi của ông Raul để nhìn nhận lại về mô hình Chủ nghĩa Xã hội mà ông đang kiên trì áp đặt trên đất nước mình.
Nhân dân vốn rất tỉnh táo và sáng suốt, vì thế mà rất bao dung và công minh khi nhìn nhận những người lãnh đạo. Họ biết bỏ qua những sai lầm, khiếm khuyết do sự bất cập của trí tuệ bản thân và sự khiên cưỡng của cơ chế tuyển chọn, để sẵn sàng ghi nhận những đóng góp của những người, do sự đưa đẩy của số phận và thời cuộc, đã được trao cho những sứ mệnh qúa lớn vượt khỏi tầm vóc của người phải nhận sứ mệnh đó. Lịch sử vốn rất song phẳng trong sự khoan dung và công bằng.
Đã có những tấm gương tày liếp về chuyện kiên định lập trường xây dựng XHCN mà đã đẩy đất nước rơi vào thảm hoạ như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có ảo tưởng dựa vào Trung Quốc để cố níu kéo mấy nước XHCN còn lại sau khi Bức tường Berlin đã bị phá vỡ khỏi sụp đổ. Chính cái ảo tưởng đó, hệ quả trực tiếp của một tầm tư duy hạn hẹp và thiển cận đã dẫn đến Hội nghị Thành Đô năm 1990 với hệ luỵ khủng khiếp mà mọi người đã thấy. Nếu Chủ nghĩa là sản phẩm của một ảo tưởng duy ý chí thì cái gọng kìm Trung Quốc với Hội nghị Thành Đô siết chặt con mồi Việt Nam lại là một hiện thực trực tiếp đau đớn mà ai cũng thấy được.
Ấy vậy mà, “trong lịch sử chưa có một mô hình xã hội chủ nghĩa nào”, mà ngay cả những nhà sáng lập ra học thuyết Mác “cũng chưa bao giờ đề ra một định nghĩa có tính chất hình mẫu về chủ nghĩa xã hội khoa học cả, chính khoa học là ở chỗ đó”, nhận định đó được đưa ra từ hơn 20 năm trước *. Thời gian đã đủ để chứng minh rằng việc áp đặt mô hình XHCN cho mục tiêu phấn đấu xây dựng đất nước là một sai lầm, không chỉ là phản khoa học mà còn là phản tiến hoá. Đã quá muộn để dứt khoát từ bỏ mô hình đó. Nhưng muộn còn hơn là ngoan cố duy trì một lựa chọn sai lầm đã đẩy đất nước đi vào ngõ cụt. Điều có ý nghĩa thuyết phục mạnh mẽ hơn cả là không có “Chủ nghĩa Xã hội” trong “Điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh trong Di chúc.

2. Về cái gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin
Như vừa trình bày ở trên, “kim chỉ nam” của sự nghiệp xây dựng XHCH ở Việt Nam chính “Chủ Nghĩa Mác-Lênin”. Nhưng thực chất cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” đó là gì, nó từ đâu tới và hiện nay số phận của nó ra sao thì cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra những lý lẽ thuyết phục. Mà xét đến cùng thì cũng không thể thuyết phục được với một khái niệm tiên thiên bất túc như khái niệm được lấy làm “kim chỉ nam”cho việc xây dựng “chủ nghĩa xã hội” đang được áp đặt. Vì thế, cần phải thật sự sòng phẳng trước lịch sử. Và muốn vậy, phải thật sự tường minh về cái gọi là “Chủ nghĩa Mác-Lê nin” ấy trên bình diện lý luận cũng như trong thực tiễn.
Sự thật thì đã từ lâu, những người cộng sản có sự hiểu biết sâu sắc về lý luận trong một số đảng Cộng sản đã từ bỏ khái niệm và cụm từ “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Nhiều Đảng Cộng sản đã chính thức từ bỏ từ khoảng hơn năm chục năm nay. Họ chỉ thừa nhận rằng có học thuyết của C.Mác và rồi sau đó có sự đóng góp của V.I.Lênin và của một số nhà lý luận cộng sản khác vào học thuyết ấy, chứ không hề có cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin”, một sản phẩm xuyên tạc, cả cố ý và vô tình của J.Stalin.để rồi khi đi về phương Đông thì nó lại bị nhào nặn bởi những tư tưởng lý luận Maoít để trở thành “kim chỉ nam” dẫn đến những thảm hoạ.
Điều cần lưu ý là, sinh thời C.Mác không bao giờ tự nhận có một “chủ nghĩa Mác”, thậm chí C.Mác từng viết : "Tôi chỉ biết một điều là tôi không phải là người Mác-xít". Về sau này, do nhu cầu của cách mạng mà những đồng chí của C.Mác, trước hết là Ph.Angghen mới nói đến “Chủ nghĩa Mác” với tính cách là một học thuyết nhằm dẫn dắt sự nghiệp cách mạng. Điều này là đòi hỏi khách quan, cho nên nó cần thiết. C.Mác nói vậy là do nhận thức sâu sắc được sứ mệnh chân chính của một nhà khoa học. Nhưng sau đó, với trách nhiệm lãnh tụ của phong trào công nhân, Ph.Angghen cần đến một học thuyết để làm ngọn cờ tư tưởng lý luận cho phong trào, thì không có ai xứng đáng hơn là C. Mác. Khái niệm “chủ nghĩa Mác” ra đời là một đòi hỏi của lịch sử phong trào công nhân thế giới, trước hết là Châu Âu. Vả chăng, lúc này C.Mác đã qua đời! Hình như sau này, “chủ nghĩa Lênin” cũng được tạo dựng theo cách ấy nhưng về sau thì bị diễn dịch theo động cơ và những dụng ý khác của J. Stalin.
Ở ta, thuật ngữ “Chủ nghĩa Lênin” được xuất hiện năm 1927 trong cuốn “Đường Cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Lúc ấy chưa xuất hiện thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” vì thuật ngữ này chỉ được tạo ra từ đầu những năm 1930 và chính thống hoá trong tác phẩm “Lịch sử tóm tắt của Đảng Cộng sản (BSV)” (tức là Đảng Bolchevik ) do J.Stalin chỉ đạo soạn thảo đã là “sách gối đầu giường” biến thành kinh nhật tụng của những người không am hiểu về học thuyết Mác. Rõ ràng là, cũng như chính bản thân những tác giả của nó với tư cách là nhà khoa học và nhà cách mạng, Học thuyết của C.Mác cũng như sự nghiệp của ông đang còn dang dở. Vả chăng, C.Mác là người mà “sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hình thành đã sửa chữa”*30
Vì vậy, cần phải thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, thiếu sót trong tư tưởng lý luận của một học thuyết ra đời trong bối cảnh của thế kỷ XIX, học thuyết Mác. Đó là những sai lầm rất cơ bản trong chính tư duy lý luận của những người sáng lập học thuyết ấy đã bị thực tiễn bác bỏ, nhưng điều cần thiết hơn nữa là phải chỉ rõ những xuyên tạc và làm méo mó học thuyết Mác theo ý đồ của Stalin và rồi của Mao khi vận dụng vào thực tiễn nước ta. Những sai lầm trong cách vận dụng học thuyết C.Mác, nhất là cố tình phóng đại một cách thô thiển và dại dột những luận điểm sai lầm của C.Mác, đặc biệt là của V. Lenin được biến tấu qua những luận điểm Stalinnít và Maoít. Chính điều này đã làm trầm trọng thêm những khuyết tật của bệnh giáo điều, nô lệ sao chép những công thức, những luận điểm đã bị cuộc sống vượt qua! Tất cả những cái đó đã đưa đến những thảm trạng của đất nước hôm nay.
Xin chỉ gợi ra hai điều cốt lõi nhất đã lũng đoạn và áp đặt trong toàn bộ chủ trương đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trong suốt hơn nửa thế kỷ qua như: đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển và đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản và gắn liền với nguyên lý đó là xoá bỏ chê độ tư hữu. Thật ra, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ chuyên chính vô sản không phải là C.Mác mà là Blanqui, nhà cộng sản không tưởng người Pháp. C.Mác đã vận dụng khái niệm này vào năm 1848 với hàm ‎ý rằng "cuộc đấu tranh giai cấp nhất thiết dẫn tới chuyên chính vô sản, bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp để tiến tới một xã hội không giai cấp".
Thế nhưng, dưới ngòi bút của C.Mác, kể cả trong bản nháp, bản thảo viết tay, trong các tài liệu nội bộ không nhằm công bố, trong các bức thư viết cho anh em bè bạn hoặc thư góp ý cho đồng chí của mình hiện còn lưu giữ được, thì tần số xuất hiện của thuật ngữ chuyên chính vô sản không đến mười lần! Ngoài sự xuất hiện lần đầu vào năm 1848 ấy thì trong suốt 20 năm tiếp theo, C.Mác cũng như Ph.Angghen không dùng thuật ngữ này nữa. Cũng xin nói thêm rằng công trình đồ sộ nhất của C.Mác là bộ Tư Bản thì trong đó lại không có một định nghĩa rõ rang nào về khái niện giai cấp cả.
Còn về khái niệm tư hữu mà trong Tuyên ngôn Cộng sản xuất bản năm 1848 C.Mác "tóm tắt lý‎ luận của mình thành công thức duy nhất : xóa bỏ chế độ tư hữu" thì chỉ là cách nói thật gọn và vắn tắt "một quá trình cải tạo toàn bộ xã hội", và cũng chính ông khẳng định rằng : "chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của kẻ khác".
Nhưng đến V.Lênin rồi đặc biệt là J.Stalin thì chuyên chính vô sản là đảng trị vì đảng đã trở thành một siêu nhà nước. Với Mao thì biến tấu của nó càng khủng khiếp hơn để khi du nhập vào Việt Nam thì "chuyên chính vô sản" chiếm lĩnh vị trí then chốt trong tư duy của người nắm quyền lực với luận điểm ưa thích là “súng đẻ ra chính quyền”. Mà vì thế, xóa bỏ chế độ tư hữu đã trở thành điểm quy chiếu trong sự phân định cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội!
Một sự xuyên tạc do bất cứ lý do gì, do trình độ hạn chế hoặc bị mê hoặc bởi những giáo điều, thì hệ luỵ của nó cũng rất khó mà đo đếm cho xuể. Cho nên như đã trình bày, vấn đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” trở thành một điểm quy chiếu trong cuộc đấu tranh ai thắng ai, trong định hướng bản chất của Chủ nghĩa Xã hội, phải giữ bằng được “công hữu”, mất sở hữu toàn dân, trong đó có đất đai, là mất Chủ nghĩa Xã hội đã để lại những vết hằn quá sâu trên cơ thể đất nước mà muốn xoá những vết hằn đáng xấu hổ đó sẽ phải có một quyết tâm rất lớn cùng với những giải pháp đồng bộ và quyết liệt.
Người ta không hiểu được rằng vấn đề xoá bỏ chế độ tư hữu nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” là “tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất”  chỉ là cách nói thật gọn, thật vắn tắt một quá trình cải tạo toàn bộ xã hội. Làm được cái đó hay không sẽ còn rất nhiều chuyện phải bàn, song ngay vào thời điểm ấy, chính C.Mác đã khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của kẻ khác”.
Quá trình cải tạo xã hội ấy không phải là sự xóa bỏ giản đơn bằng một mệnh lệnh hành chính hoặc là “sự tước đoạt lại những kẻ đi tước đoạt”, mà phải là sự phát triển tất yếu của đại công nghiệp đưa tới sự thay đổi cơ bản môi trường sống của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Trong thuật ngữ đương đại, thì đấy là con người phải tự biến đổi để thích nghi với môi trường mới do chính họ tạo ra. Không có sự phát triển của đại công nghiệp thì không thể có quá trình cải tạo toàn bộ xã hội để thực hiện kết quả cuối cùng là xóa bỏ chế độ tư hữu trong quan niệm của C.Mác vào thời điểm ấy.
C.Mác trình bày rất dứt khoát “Như vậy là chỉ với công nghiệp lớn, mới có khả năng xóa bỏ được sở hữu tư nhân".  Nói cách khác, trong tư duy lý luận của C.Mác, xóa bỏ chế độ tư hữu là hệ quả của việc thực hiện thành công chủ nghĩa cộng sản như ông mơ ước. Với ông, sở hữu tư nhân là một phương thức quan hệ cần thiết ở một giai đoạn phát triển nào đó của lực lượng sản xuất. Phương thức quan hệ sở hữu tư nhân ấy người ta không thể tách khỏi nó, không thể bỏ qua nó trong sự sản xuất ra cuộc sống vật chất, cho tới khi nào tạo ra được những lực lượng sản xuất mà sở hữu tư nhân là một ngăn cản và trở ngại đối với những lực lượng sản xuất ấy.
Để hiểu vấn đề khá phức tạp này, xin dẫn ra đây lập luận của C.Mác về lợi ích và sở hữu, về “lợi ích “phổ biến” hư ảo, dưới hình thức nhà nước”…biểu hiện như một lực lượng xa lạ” trong “Hệ tư tưởng Đức”: “Sự tha hoá” ấy - dùng từ đó để cho các nhà triết học dễ hiểu sự trình bày của chúng tôi - dĩ nhiên chỉ có thể bị xoá bỏ khi có hai tiền đề thực tiễn. Để trở thành lực lượng“không thể chịu đựng được"  nghĩa là một lực lượng mà người ta phải làm cách mạng để chống lại, thì điều cần thiết là sự tha hoá đó phải biến đa số trong nhân loại thành những người hoàn toàn “không có sở hữu”, đồng thời mâu thuẫn với cái thế giới đầy dẫy của cải và học thức đang tồn tại thực sự - cả hai điều này đều giả định trước là phải có sự tăng lên to lớn của sức sản xuất.
Mặt khác, sự phát triển ấy của những lực lượng sản xuất cùng với sự phát triển này, sự tồn tại có tính chất lịch sử thế giới, chứ không phải có tính chất địa phương nhỏ hẹp, của con người đã thực hiện một cách kinh nghiệm chủ nghĩa) là tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là một sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây.
Cần nhớ rằng C.Mác viết những dòng này vào năm 28 tuổi, và suốt đời C.Mác đã tập trung nghiên cứu về sở hữu kinh tế và trình bày tập trung trong “Tư Bản”. Chính ở đây có một tư tưởng rất quan trọng : khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bị xóa bỏ, sẽ xuất hiện sở hữu cá nhân của người lao động bao gồm cả tư liệu sản xuất chứ không phải chỉ là tư liệu sinh hoạt. Tư tưởng lý luận này không phải sau này mới có mà ngay trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác cũng đã có nói đến tuy còn lúng túng: sở hữu cá nhân của những người lao động dựa trên những thành quả của thời đại tư bản chủ nghĩa, dựa trên sự hợp tác của những người lao động được giải phóng và sự chiếm lĩnh chung tất cả các tư liệu sản xuất, kể cả đất đai. Ở đây có sự nhập nhằng, đã công hữu về tư liệu sản xuất nhưng vẫn có sở hữu cá nhân của người lao động về tư liệu sản xuất.
Dù sao thì những lập luận nói trên vẫn còn được diễn đạt theo cách ngoại suy. Nhiều năm sau đó, khi viết “Tư bản”, C.Mác đã thấy ra được rằng, cái sẽ thay thế cho sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân của con người lao động mới hợp tác với nhau, chứ không phải sở hữu công cộng hiểu một cách giản đơn là tập thể hoá, quốc hữu hoá như người ta đã làm. Rõ ràng, suốt cả quá trình suy nghĩ và trăn trở về điều này, tư duy khoa học của C.Mác đã trải qua nhiều chặng với nhiều biến đổi, trong đó chồng chất những sai lầm. Cũng nên nhắc lại rằng bộ Tư Bản được C.Mác nghiền ngẫm và biên soạn ròng rã suốt 25 năm trời, thế nhưng sinh thời C.Mác chỉ cho ra mắt Quyển I [in xong ngày 14.9.1867], còn những quyển tiếp theo thì mãi sau khi C.Mác qua đời  Ph. Angghen mới lần lượt xuất bản.
Chính vì thế, cần lưu ý thêm, trong một số trường hợp, đúng là C.Mác có nói về “xoá bỏ sở hữu tư nhân”, nhất là thời kỳ đầu, lúc trẻ, nhưng suốt về sau này, khi C.Mác dùng cụm từ “xoá bỏ sở hữu tư nhân” trong phần lớn trường hợp, ý của C.Mác muốn chỉ rõ đó là “xoá bỏ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa” mà theo quan niệm của C.Mác trong bối cảnh tích lũy sơ khai của chủ nghĩa tư bản, thì sở hữu đó là để nô dịch lao động của kẻ khác. Nhận thức ấy của chàng thanh niên C.Mác thế kỷ XIX đúng sai như thế nào thì phải đặt nó vào thời điểm lịch sử ấy mà xét đoán.
Nêu lên những điều trên hoàn toàn không nhằm biện hộ cho những sai lầm của học thuyết Mác, mà chỉ để nói rõ hơn những biến dạng của những cái mà người ta gán cho C.Mác do không hiểu một cách kỹ càng luận điểm của C.Mác, hoặc là do đọc mà không hiểu, nhưng tệ hại nhất là do ăn theo nói leo như vẹt những giáo điều được rao giảng bởi những người đang nắm quyền lực để dễ lọt được “mắt xanh” của ai đó cũng rất mù mờ về lý luận Mác nhưng lại có quyền phán bảo và rao giảng! Chính cái đó gây tai hoạ cho cuộc sống mà đã quá muộn để phải thật sòng phẳng về điều này để rồi  những biến dạng tệ hại đó lại tiếp tục chi phối quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII, tiếp tục gây tai hoạ cho đất nước.
Phải mạnh dạn và trung thực chỉ rõ rằng khi vận dụng một cách quá thô thiển và nông cạn mệnh đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” gắn liền với mệnh đề “chuyên chính vô sản” để thể hiện nó trong chủ trương, đường lối, trong chính sách và giải pháp đã đưa đến những nguy hại không sao lường trước được cho đến tận hôm nay, thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI! Thì chẳng phải cũng chỉ cách đây mấy năm thôi, trong một bài viết của Võ Văn Kiệt đề cập đến vấn đề này đã lập tức bị Trần Trọng Tân phê phán quyết liệt.
Phê phán cái gì? Phê phán những ý tưởng mà Võ Văn Kiệt nhắc đến về những gợi mở của Lê Duẩn trong sự vận dụng một cách quá thô thiển và nông cạn mệnh đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” gắn liền với mệnh đề “chuyên chính vô sản” nói trên :
“Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. …
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM.
Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp..
Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên. Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa…”.
Bài này vừa đăng lên thì hai hôm sau trên báo "Sài Gòn Giải phóng" ông Trần Trọng Tân đã lên tiếng bác bỏ trong một bài viết “đằng đằng sát khí”! Trong lập luận, Trần Trọng Tân dứt khoát khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Quả thật, không có ví dụ nào sáng tỏ hơn về cảnh báo “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá” [đây điều mà Angghen đã mượn lời của Hégel khi bàn về biện chứng của sự phát triển]. Thật là khủng khiếp của cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá! *
Nhưng cũng phải công bằng mà nói, về cuối đời, ông Trần Trọng Tân đã có nhiều chuyển biến đáng trân trọng trong tư duy. Những ý kiến mạnh mẽ và thẳng thắn của ông khi trao đổi về thời cuộc, những đóng góp đúng đắn của ông với đường lối, chính sách của Đảng đã có những tiếng vang trong công luận vốn đang mong chờ những tiếng nói phản biện mạnh mẽ nhằm thúc đấy quá trình dân chủ hoá để hoá giải dần tệ độc đoán phản dân chủ, phản tiến bộ của những thế lực bảo thủ, giáo điều khiếp nhược trước áp lực của Trung Quốc đang cố vin vào người láng giềng “cùng chung ý thức hệ” được nhồi vào trong “16 chữ” và “bốn nguyên tăc” lừa mị và bịp bợm để mong giữ được cái ghế quyền lực đang chao đảo.
Ấy vậy mà, đối với những vấn đề vốn được xem là “nguyên lý, nguyên tắc”, thì sức chuyển biến của tư duy của người từng là Trưởng ban Tư tưởng và Văn hoá của Đảng vẫn chưa đủ sức để vượt qua! Thế thì nói gì đến những đầu óc lú lẫn, xơ cứng sẽ là quá khó, nếu chưa muốn nói là không thể, tiếp nhận được chân lý của cuộc sống. Càng nguy hiểm hơn nữa khi những giáo điều tệ hại đã ngự trị trong não trạng của một số người do sự đưa đẩy của thời cuộc đã chiếm lĩnh được cái ghế quyền lực ở những cấp cao nhất, trở thành một quán tính chi phối cách tư duy và mọi hành động của họ đều bị dẫn dắt bởi “tính chuyên chế của tập quán”.
Điều này thì cách đây gần hai trăm năm, khi phân tích về nền chuyên chế phương Đông, tác giả của cuốn sách mang ý nghĩa khai sáng “Bàn về tự do” đã chỉ ra: "nền chuyên chế của tập quán đã hoàn tất triệt để. Đó là trường hợp của toàn thể phương Đông. Ở đó Tập quán là tiếng nói quyết định cuối cùng".  Jonh Stuart Mill cảnh báo: “tính chuyên chế của tập quán ở mọi nơi là chướng ngại thường trực cản trở con người tiến lên phía trước, luôn không ngừng đối kháng với xu thế hướng tới cái gì đó tốt đẹp hơn thói thường, cái xu thế mà tùy theo tình hình vẫn được gọi là tinh thần tự do". Vì thế, cái đang ngự trị trong đời sống tinh thần của xã hội nhân danh “chủ nghĩa Mác-Lênin” chính là cái trạng thái suy đồi nhưng lại được tập quán thần thánh hoá chứ không là gì khác.
Dẫn ra những điều trên để nói lên một sự thật: Thực tiễn đã chứng minh quá rõ ràng và khắc nghiệt lý‎ do cần phải dứt khoát vứt bỏ cái “kim chỉ nam” đã dẫn dắt sự lựa chon mô hình sai. Bằng chứng hiển nhiên về sự sai lầm đó là sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới và sự trì trệ, chậm phát triển của đất nước ta hiện vẫn đang là người chạy áp chót trong tiến trình phấn đấu đẩy tới quá trình hội nhập quốc tế.
Có nhiếu nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ và yếu kém đó. Trước hết phải nói, đó là những sai lầm, yếu kém tích tụ suốt cả một thời gian dài. Trong đó sai lầm lớn nhất là sự xơ cứng về lý luận để cứ khăng khăng khẳng định con đường đã chọn là đúng đắn nhất! Đó là một hệ thống lý luận xa rời thực tế và đã bị thực tế vượt qua. Nhưng do chỉ quen với thói độc quyền tư tưởng và áp đặt tư duy, một dạng biểu hiện sự tha hoá của quyền lực, những người gánh trọng trách không tìm cách đổi mới hệ thống lý luận và quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội, họ bị đóng khung chết cứng trong những giáo điều đã học thuộc lòng để rồi bằng quyền lực cưỡng bức mọi người phải tuân phục sự áp đặt đó. Quả đúng là “sự ngạo mạn của quyền lực là kẻ thù lớn nhất của chân lý” như Einstein bộ óc lớn của mọi thời đại đã cảnh báo.
Chính vì thế mà những rao giảng của “những nhà lý luận” đang ngự trị trên ghế quyền lực hiện nay chỉ là bản sao nhàm chán của những giáo điều được học thuộc từ nửa cuối thế kỷ XX, trong lúc giới lý luận nói riêng và các nhà khoa học lớn của thế giới đã nghiêm khắc chỉ ra rằng "khi khủng hoảng trở nên trầm trọng, những cách tư duy thông thường không còn đúng nữa : cái bạn cho là tốt thực ra là tệ hại, cái mà bạn tưởng là thận trọng thực ra lại đầy rủi ro, và sự khôn ngoan lại hóa ra là dại dột” [Paul Krugman, người được giải Nobel về kinh tế đã trình bày tại một Hội thảo ở Sài Gòn năm 2012].
Những đầu óc xơ cứng ấy không sao hiểu được rằng “con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi. Họ sẽ bị buộc phải suy nghĩ lại: sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi”. Chính vì vậy người ta khẳng định rằng, trong thời đại của nền kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ “chuẩn mực chính là sự thay đổi”.
Xin trở lại với ý kiến Trần Phương: "Thế tôi hỏi ông là: bây giờ ông nói là nền tảng của ông là chủ nghĩa Mác – Lênin thì chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì đây nhỉ? …chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì, mà ông nói là nền tảng của ông?
Chúng ta đã trải qua 70 năm xây dựng CNXH theo nguyên tắc mà ông Mác đưa ra, là gì? Chuyên chính vô sản về mặt chính quyền. Thứ hai về mặt kinh tế thì lấy chế độ công hữu làm nền tảng ấy để thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động v.v… Nhưng mà bây giờ ông xem lại tất cả những nguyên tắc đó ông có làm không? Tôi nghĩ ông từ chối rồi còn gì nữa. Có phải không? Khi các ông đổi mới... cái thời kỳ mà ông xây dựng CNXH từ năm 60 cho đến năm 80 là ông theo cái tư tưởng tả khuynh. Ông theo một cái tư tưởng giáo điều mà cái điều này là ông Mác sai, ông dự kiến là CNXH, với những đặc trưng đó thì dự kiến của ông Mác là sai. Ông Mác có nhiều cái dự kiến phải nói là thiên tài, nhưng riêng dự kiến là những đặc trưng của CNXH là ông Mác sai. Nhưng mà chúng ta không thừa nhận rằng ông ấy sai. Chúng ta cứ làm giả vờ như là ta vẫn theo ông Mác. Thì xin lỗi, ông giả vờ ông Mác thì ông đã thay đổi hành động của ông rồi”.
Nhân “tư tưởng tả khuynh” mà Trần Phương vừa đề cập, xin nói them đôi câu. Những người sính trích dẫn kinh điển hãy đọc lại cuôn “Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” của phong trào cộng sản” của Lênin viết vào tháng 5.1918 . Trong tác phẩm này, Lênin đã phê phán: “luận điệu “tả khuynh” ấu trĩ” mà ông cho là một “mớ hỗn độn cũ rich”, nếu “cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó, “đưa nó đến chỗ tột  cùng” thì từ một sai lầm nhỏ, người ta luôn luôn có thể làm cho nó thành một sai lầm lớn ghê gớm”. Lênin phê phán sai lầm của phái “tả” trong nội bộ Đảng Bônsêvích Nga, tiếp đó, với sự ra đời của các Đảng Cộng sản, bệnh “tả khuynh” đã phát sinh trên phạm vi quốc tế trong quãng thời gian 5 năm trước khi tác phẩm này ra đời trước Đại hội II của Quốc tế Cộng sản. Khi đến Đại hội, mỗi đại biểu đã có trong tay tác phẩm này. Thế mà căn bệnh “tả khuynh” ở nước ta kéo dài đã 70 năm vẫn đang tác oai tác quái mà vẫn chưa được vạch trần một cách quyết liệt, cho dù trong bài viết “Đóng góp ý kiến vào lý luận và thực tiễn 20 năm Đổi mới" Võ Văn Kiệt đã vạch rõ "Chính là xu hướng giáo điều "tả khuynh" vẫn tồn tại, muốn co kéo, kiềm chế những tiềm lực phát triển nhưng lại mang danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống chệch hướng".
Sự cảnh báo ấy chưa đủ để ngăn chặn thế lực bảo thủ, giáo điều vẫn cố tình “cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó, “đưa nó đến chỗ tột cùng” theo cách nói của Lênin, đã và đang gây nên thảm hoạ cho đất nước. Sự ngoan cố của cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá này diễn ra thiên hình vạn trạng, nhưng trắng trợn và dễ thấy nhất là khi cái thế lực này lại chiếm lĩnh được những cái ghế cao ngất ngưỡng của quyền lực để thực thi thủ đoạn của mình. Chỉ xin dẫn ra một ví dụ xoay quanh việc điều chỉnh và “phản điều chỉnh” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991), một thủ đoạn khôn khéo nhằm ngăn chặn những tư tưởng mới được thể hiện trong những luận điểm tiến bộ được đưa ra tái Đại hội X để minh hoạ cho những điều vừa trình bày.
Đây là Cương lĩnh đã được Đại hội VII thông qua nhưng đến Đại hội X đã có những điều chỉnh lớn tại Đại hội X. Chẳng hạn như về mục tiếu của xây dựng XHCN không phải là thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thay mệnh đề nhân dân lao động làm chủ  bằng nhân dân làm chủ, tức là toàn dân làm chủ. Về Đảng thì trở lại quan điểm của đại hội II: Đảng là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của toàn dân tộc chứ không chỉ nói Đảng là Đảng của giai cấp công nhân nữa, việc đảng viên được làm kinh tế tư nhân cũng đã được khẳng định tại Đại hội. Như vậy là Đại hội X đã không khẳng định tính toàn vẹn của Cương lĩnh nữa mà đặt vấn đề sau Đại hội sẽ làm Cương lĩnh mới.
Thế nhưng đến Đại hội XI năm 2011 lại khẳng định mạnh mẽ Cương lĩnh 91. Có thể gọi đây là một bước “phản điều chỉnh”, đi ngược lại những điều chỉnh của đại hội X.  Nếu đại hội X khẳng định tính không trọn vẹn của Cương lĩnh 91 và đặt vấn đề phải làm lại, thì đến đại hội XI lại đưa ra đánh giá: từ đại hội VII đến đại hội XI (tức là khoảng 20 năm) là thời kỳ thực hiện Cương lĩnh 91 với những thành công có ý nghĩa lịch sử. Vây thành công “có ý nghĩa lịch sử” đó là gì nếu không phải là làm chậm bước phát triển của đất nước, đặc biệt là với Hội nghị Thành Đô 1990, đẩy đất nước rơi vào quỹ đạo lệ thuộc vào Trung Quốc, điều mà Nguyễn Cơ Thạch đã từng cảnh báo về “một thời “Bắc thuộc lần thứ hai”.
Những gì tồi tệ nhất cũng diễn ra trong gần 5 năm qua của nhiệm kỳ Đại hội XI. Chính trong thời gian này, “luận điệu “tả khuynh” ấu trĩ ” mà Lênin gọi là một “mớ hỗn độn cũ rich” như đã dẫn ra ở trên, lại được rao giảng một cách trơ trẽn và nhàm chán như thế nào thì nhiều người đã thấy rõ. Không chỉ rao giảng trong nước mà còn dại dột rao giảng tận bên kia bán cầu để rồi sau đó bị “cấm cửa”. Chuyện đáng buồn này không là sự bẽ mặt của một cá nhân “mình thế nào người ta mới mời chứ”, mà còn là một sự xúc phạm đối với thể diện quốc gia vốn chưa có tiền lệ trên lĩnh vưc ngoại giao!
Những người đang làm cái việc nhàm chán đó không dám đọc hoặc đọc mà không hiểu nổi lời cảnh báo của chính C.Mác: "làm sống lại những người đã chết là để ca ngợi những cuộc đấu tranh mới, chứ không phải để nhai lại những cuộc đấu tranh cũ, là để đề cao trong tưởng tượng một nhiệm vụ nhất định, chứ không phải để trốn tránh việc giải quyết nhiệm vụ ấy trong thực tế". *
Họ phải khấn vái tụng niệm vì đúng như C.Mác đã vạch ra, là "để tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình". Vì thế, họ không chịu để cho "những người đã chết chôn cất những người chết của mình" vì họ không thể "làm sáng tỏ cho mình cái nội dung của chính mình", họ không thể "tìm được thi hứng của mình ở tương lai chứ không phải ở quá khứ" nên phải "buộc cái bóng ma của nó phải lang thang một lần nữa". Đúng là những người cứ phải tụng niệm những giáo điều mà có khi thật lòng họ cũng không tin, nhưng vì để “trốn tránh việc giải quyết những nhiệm vụ” mà nếu họ thực thi nhiệm vụ đó thì họ buộc phải từ bỏ cái ghế quyền lực của mình. Chính vì thế họ không thể "làm sáng tỏ cho mình cái nội dung của chính mình", họ phải tự lừa dối mình và lừa dối người khác, lừa dối cả xã hội.
Phải như vậy, vì thật xót xa và đau đớn như Nguyễn Khải viết : “Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói. Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật...
Chẳng thế mà C.Mác đã phê phán một cách mỉa mai các sự biến lớn trong lịch sử đều xuất hiện có thể nói là hai lần, "lần đầu như một bi kịch và lần thứ hai như một trò hề"! Liệu có cần nói thêm rằng cái "trò hề" hiện đại mà người ta đang công diễn, cho dù có mượn y phục của người xưa để hiện lên trên sân khấu mới của lịch sử, cũng đã quá dai dẳng và lố bịch khi chính họ đã mất phương hướng, mất niềm tin về chính cái tín điều mà họ đang áp đặt cho toàn xã hội! Mất như thế nào thì chính người đang ngồi trên cái ghế cao nhất kia đã buột miệng nói ra như vậy, bàn dân thiên hạ đều biết cả, chắc chẳng cần nhắc lại ở đây.
Mất phương hướng về định hướng mục tiêu. Thế nhưng những tín điều được học thuộc lòng thì lại đã ăn sâu vào não trạng của người nắm quyền lực quyết duy trì quyền lực tuyệt đối đó khó mà rũ bỏ. Ấy vậy mà quyền lực lại có xu hướng tha hoá, quyền lực tuyệt đối thì sự tha hoá cũng tuyệt đối. Chế độ toàn trị phản dân chủ là nguyên nhân sâu xa cho cái chuyện “quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối” ấy. Tuy nhân danh Đảng, nhưng trên thực tế là nhân danh cho một nhóm người đang thao túng một Đảng đã biến dạng. Họ đang phản bội lại Đảng mà họ nhân danh, đúng hơn, đang phản bội lại Đảng của Hồ Chí Minh do sự tha hoá tuyệt đối đó của những người nắm quyền lực. Những người ấy đang cố kết lại thành một giai cấp mới như tên gọi của một cuốn sách do Milovan Dijlas một nhà lý luận cộng sản viết ra. Xin nói vài dòng về khái niệm này.
Vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, tác giả của “Giai cấp mới”, một tác phẩm viết trong tù bí mật gửi ra nước ngoài và được in ở New York năm 1957 từng phân tích rất rành mạch về “giai cấp mới” đó: “Đảng sinh ra giai cấp. Sau đó giai cấp tự phát triển bằng chính nguồn lực của mình và sử dụng đảng như là cơ sở... Ở đây, muốn trở thành chủ sở hữu hay đồng sở hữu thì cần phải len được vào hàng ngũ của bộ máy quan liêu chính trị”.
Milovan Dijlas chỉ ra rằng: “Giai cấp mới giống như một hình kim tự tháp: đáy to, càng lên trên càng hẹp dần. Để đi lên, chỉ ý chí không chưa đủ, còn cần phải hiểu và “vận dụng lý luận nữa”, cần phải quyết liệt trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, phải cực kỳ khôn khéo khi xảy ra các cuộc tranh chấp trong nội bộ đảng, phải nắm được nghệ thuật, thậm chí tài năng trong việc củng cố vị trí cho giai cấp nữa.”
Vì thế, “cùng với việc củng cố giai cấp mới, khi bộ mặt của nó càng thể hiện rõ, thì vai trò của đảng cũng ngày càng giảm đi. Hạt nhân và cơ sở của giai cấp mới đã hình thành ở bên trong cũng như trên đỉnh quyền lực của đảng và của bộ máy nhà nước. Cái đảng từng có lúc là một tổ chức sinh động đầy sáng kiến, thì nay, đối với những người cầm đầu của giai cấp mới, đảng đã biến thành một vật trang trí, càng ngày chỉ càng kéo vào hàng ngũ của mình những kẻ hãnh tiến, những kẻ muốn nhập vào hàng ngũ của giai cấp mới, và đẩy những người vẫn còn tin vào lý tưởng ra”.
Gần gũi hơn và cũng dễ chứng minh hơn là những phát biểu của Trần Độ năm 1974 về “một thế lực xã hội” bao vây và xua đuổi những tâm hồn trung thực” khi từ chiến trường ra lại Miền Bắc cũng có nội dung na ná như thế.
Ông viết: “nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội và trong tất cả các tổ chức Đảng, trong bộ máy chính quyền... Điều đó ai cũng thấy. Thế nhưng vấn đề là tại sao nó lại chuyển biến chậm chạp. Sự biến chuyển chậm chạp này đã tạo ra một tình trạng giảm sút lòng tin trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân và đáng ngại nhất là trong thanh niên... Những hiện tượng tiêu cực của xã hội (và trong Đảng, trong chính quyên) làm vẩn đục sự trong sáng và đẹp đẽ của những lý tưởng, đầu độc những lòng say mê hăng hái có tính chất lãng mạn cách mạng, “sống tiêu cực”, tạo nên “một thế lực xã hội” bao vây và xua đuổi những tâm hồn trung thực “...mọi người trung thực đều nóng lòng mong đó một cái gì đổi mới, chuyển biến gì mạnh mẽ...” .
Trung thực với chính mình, trung thực với cuộc sống, trung thực với lịch sử, chính cái đó tạo ra “hiện tượng Trần Độ”, ở đây “sức hấp dẫn vĩnh hằng đối với những chiến sĩ tranh đấu cho tự do và tiến bộ. Sức hấp dẫn mang tính nhân bản của những lý tưởng đó” bị chính sự dối trá lọc lừa của “quyền lực bị tha hóa” làm cho băng hoại. Bằng sự trải nghiệm của cả cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý‎ tưởng nhân văn cao đẹp, Trần Độ tỉnh táo nhận ra sự băng hoại khủng khiếp đó.
Xin nhắc lại rằng Milovan Dijlas, vốn là Phó Tổng thống Liên bang Nam Tư dưới thời Joseph Tito, được giao trọng trách công tác tư tưởng với nhiệm vụ chứng minh cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của Tito là đúng đã viết “Tôi, một trí thức đã đi trọn con đường mà một đảng viên cộng sản có thể đi. Từ những chức vụ thấp nhất, từ các tổ chức cơ sở cho đến quốc gia và quốc tế, từ việc thành lập một đảng cộng sản chân chính, chuẩn bị cách mạng, đến việc tham gia xây dựng cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa. Không ai buộc tôi phải tham gia hay từ bỏ chủ nghĩa cộng sản cả. Tôi đã tự quyết, theo niềm tin của mình, một cách tự do... Càng rời xa chủ nghĩa cộng sản, tôi càng tiến gần đến lý tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ...
Tư tưởng bình đẳng và bác ái tồn tại cũng lâu như chính loài người, được chủ nghĩa cộng sản ủng hộ trên lời nói, vốn mang trong mình nó sức hấp dẫn vĩnh hằng đối với những chiến sĩ tranh đấu cho tự do và tiến bộ. Sức hấp dẫn mang tính nhân bản của những lý tưởng đó đã làm cho việc phê phán chúng trở thành không chỉ phản động mà còn trống rỗng và vô nghĩa nữa”. Chính vì thế mà người trí thức “đã đi trọn con đường mà một đảng viên cộng sản có thể đi” ấy đã “tập trung mô tả đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản hiện đại... Tất cả chỉ là sản phẩm của thế giới mà tôi đang sống và đang phê phán. Tôi đã thấy và đã trình bày tất cả mà không ngượng ngùng khi thú nhận rằng mình đã là sản phẩm của nó, có lúc đã là người tham gia xây dựng nó và bây giờ là người phê phán nó”.*
Phải chăng đây là sự “phê phán nó” khi “nó” đã tự tha hóa, tự biến mình thành công cụ trong tay “giai cấp mới” với lợi ích của chính nó, củng cố chế độ toàn trị phản dân chủ, quay lưng lại với nhân dân?
Trong những bức thư Trần Độ gửi lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là bức thư viết vào cuối năm 1974 dưới bút danh Chín Vinh, cũng có bóng dáng của sự phê phán nói trên. Trần Độ cũng đã từng giữ trọng trách Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban Văn hoá văn nghệ TƯ cũng đã day dứt trong Nhật ký viết vào những năm cuối đời mà ông gọi “đây là một tấc lòng “để tặng người đời và cuộc đời”. Đây là những ý nghĩ nung nấu trong những tháng cuối năm Rồng và đầu năm Rắn, và cũng là những ý nghĩ nung nấu trước đó hàng chục năm và sẽ còn nung nấu tiếp đến cả khi sang thế giới bên kia. Đây là nỗi niềm cay đắng của một cuộc cách mạng, và của một kiếp người”.
Không giống như những kẻ bị C, Mác phê phán đã dẫn ra ở trên, Trần Độ không “tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình", ông quyết liệt và thẳng thắn đòi hỏi: “Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng...”.
Chắc chắn rằng những điều nói trên không chỉ là đòi hỏi của Trần Độ, cũng như trong Đảng và trong nhân dân không chỉ có một Trần Độ. Không thiếu những bức xúc như của Trần Độ. Càng không thiếu những người âm thầm nung nấu những suy tư như Trần Độ. Một sức mạnh bung phá đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng nhẫn nại chịu đựng để tĩnh lặng nung nấu những khát vọng. Liệu có phải đó là khoảng tĩnh lặng trước cơn bão?
Chính vì vậy, phải sòng phẳng với cuộc sống, đừng “tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình" nữa, không thể kiên định và “trung thành” theo kiểu "quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma" mà cần làm ngược lại: "phải đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”. Phải đoạn tuyệt không mảy may thương tiếc cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá để mạnh dạn dấn bước khi mà một cơ may và vận hội mới đang đến với nhận thức sâu sắc rằng bỏ lỡ thời cơ là sự sai lầm tệ hại nhất mà rồi cái giả phải trả cho sự đánh mất thời cơ sẽ là qúa lớn. Đó chính là mệnh lệnh của cuộc sống, thể hiện ý chí của những đảng viên có lương tri, cũng là đòi hỏi bức xúc của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Hãy học tập thái độ dũng cảm, thực sự cầu thị, dám nhận sai lầm để kiên quyết sửa chữa sai lầm của cố Tổng Bí thư Trường Chinh, viết lại Báo cáo Chính trị để dẫn đến bước đột phá của Đại hội VI, đưa đất nước thoát khỏi sụp đổ. Quá trình tiến tới Đại hội XII phải được chuẩn bị theo tinh thần đó thì mới đáp ứng được những bức xúc và ý nguyện của đông đảo đảng viên và nhân dân. Quá trình đó đang diễn ra trong một bối cảnh mới phức tạp hơn, nhưng đồng thời cánh cửa đã mở rộng cho những ai dám dấn thân vào “cuộc chiến đấu khổng lồ” nhằm “chống lại những gì đã cũ kỹ hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
( Mời xem tiếp phần 3 "Trung thực và nghiêm chỉnh thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc " vào Kỳ 2 .
   -------------------------------------------------------------------
Cảm ơn cụ Nguyên Hân đã chuyển Bản tin của GS.TL đến Làng ta .
Dề nghị cụ chuyển lời chúng ta chúc mừng anh Tương Lai đã ra Viện và mong anh chiến thắng bệnh tật và sớm bình phục để tiếp tục các công việc đang còn dang dở .

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Có phải " Thân Thanh triều nên mất nước ?" ( Tham khảo )



Luật sư Nguyễn Xuân Phước từ Texas viết về bài học Triều Nguyễn và xu hướng thân Trung Hoa đưa tới chỗ mất nước và so sánh với tình trạng lệ thuộc tư tưởng ngày nay:

An vàng của Vua Gia Long

Vua Gia Long: một triều đại bắt đầu bằng nhiều trợ giúp từ Phương Tây
Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng cố đô Thăng Long đổi thành Hà Nội. Nhưng quá trình thống nhất và sự sai lầm trong việc chọn lựa con đuờng phát triển đất nước ở các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, dẫn đưa đất nước đến giai đoạn đánh mất nền độc lập.
Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây phương và lực lượng người Trung Hoa.
Đứng đầu lực lượng Tây phương phò Nguyễn Ánh là đức giám mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho giám mục Bá Ða Lộc. Đồng thời giám mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà Nẵng (là Hoàng Sa) để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại.
Sau đó giám mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho quân Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.
Chúng ta có thể khẳng định rằng vua Gia Long là vị vua Á Châu đầu tiên biết xử dụng nhân tài Tây Phương để phục vụ cho đất nước.

Hai phe đấu đá  

Hai phái Nho học và thân Phương Tây giằng xé chính trị nhà Nguyễn Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Tây phương trong triều đình Gia Long là hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức giám mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu này, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ Tây phương. Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo Tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ, Latin và có quan hệ rất tốt với Tây phương.

Ngoài ra, cánh quân sự trong triều đình Gia Long là thành phần chịu ảnh hưởng của Tây phương. Họ là những người trực tiếp xử dụng vũ khí của Tây phương. Đứng đầu cánh thân Tây phương này là tả quân Lê Văn Duyệt cùng các tướng lãnh như tiền quân Nguyễn Thành.
Phe thân Trung Hoa là những người Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyẽn Ánh để chống Tây Sơn. Người Minh Hương là những người Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Những người Minh Hương thoạt đầu là những người của tổ chức Thiên Địa Hội có ý chí phản Thanh phục Minh.
Tuy nhiên từ thời Khang Hy trở đi, nhà Thanh đã bắt đầu bị đồng hoá vào Trung Hoa và Khang Hy bắt đầu những chính sách kinh tế, chính trị làm cho Trung Hoa càng ngày càng phồn thịnh và phát huy văn hoá Trung Hoa lên cao độ. Do đó, ý chí phục Minh của những người Minh Hương không còn nữa. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những người Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Tại Việt Nam lúc bấy giờ người Minh Hương trở thành một lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều Gia Long.
Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Nhơn Tịnh. Ba ngưòi nầy là học trò xuất sắc của một nhà thâm nho gốc Minh Hương là Võ Trường Toản và cả ba được người đương thời gọi là Gia Định Tam Hùng. Cả ba đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788.
Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức được bổ nhiệm làm thượng thư bộ lại kiêm bộ hình và phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được làm Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều dóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa.
Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh Hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.

Người Hoa ở Đông Nam Á: nhóm gốc Hoa ở Việt Nam đã tác động đến triều đình Nguyễn
Hai xu hướng thân Tây phương và thân Trung Hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Việt Nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.
Sau khi phe thân Trung Hoa tạo được ưu thế trong triều đình thì thanh trừng bắt đầu xuất hiện. Tiền quân Nguyễn Thành, tổng trấn Bắc Thành, đã bị gièm pha đến phải uống thuốc độc tự vẫn thời Gia Long. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, giáng ngưòi con thứ làm thường dân.
Đối với Lê Văn Duyệt, Minh Mạng chưa dám làm gì và vẫn cho làm tổng trấn Gia Định Thành. Khi Minh Mạng ban hành lệnh cấm đạo thì Lê Văn Duyệt tại Gia Định vẫn chủ trương thân Tây phương và không thực hiện lệnh cấm đạo. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình với sự giúp đỡ của một số người Tây phương trong đó có một linh mục Công giáo. Khi cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi bị dẹp tan thì Minh Mạng mới kết án Lê Văn Duyệt, tước hết các chức vụ và cho xiềng lăng của ông bằng xích sắt.
Về phương diện ngoại giao, Minh Mạng cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước. Với những người Minh Hương thân Trung Hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh Mạng và các vua kế vị Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với Tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.

Mê văn chương xao nhãng quân sự

Sức mạnh quân sự yếu đi vì triều đình trọng từ chương, thơ phú
Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng.
Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu.
Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.
Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Sự kiện này được xác định khi triều đình họp nhau bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyẽn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương.
Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du thế giới, đặc biệt là Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam dành mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần cải cách và canh tân đất nước dâng lên Tự Đức. Nhưng triều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Sự sùng bái quá khứ du nhập từ Trung Hoa khiến Việt Nam suy yếu
Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh Nha Phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hương Cảng năm 1842.
Với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hoà.
Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ.
Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỹ nghệ đang đẩy xã hội Tây phương lên đỉnh cao của sự phát triển. Và cuộc cách mạng kỹ nghệ đó làm thay đổi cục diện thế giới, cùng lúc làm thay đổi lịch sử nước Việt.
Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lược quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.

Nhà Nguyễn cáo chung cùng sự tan rã của mô hình Khổng giáo
Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenôtre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.
Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau.
Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách giao thương phụ thuộc kinh tế Trung Hoa và sự tin tưởng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ, là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.
Ngày nay, nếu thay giao điều Thanh Nho bằng giáo điều Cộng sản, thì tình trạng Việt Nam gần như tương tự.
--------------------------------------------
Bài thể hiện quan điểm riêng của Luật sư Nguyễn Xuân Phước và đã được đăng trên Tuần san Trẻ Dallas, Texas, Hoa Kỳ. Tác giả qua thân hữu gửi đến Diễn đàn BBC Tiếng Việt. Quý vị có ý kiến phản biện hoặc đồng ý với tác giả, xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk.

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

TIẾNG VANG CỦA BÀI VIẾT VẠCH MẶT danlambao BỊA ĐẶT VỀ TRƯỜNG TA .

Sau khi Blog Bùi văn Bồng đăng tải bài viết của nhóm tác giả KyVinhHung phản bác Huỳnh Tâm trên danlambao xuyên tạc bôi nhọ trường chúng ta ( Trường TNVN . Lư Sơn-Quế Lâm), nhiều trang mạng khác đã đăng lại thu hút nhiều ý kiến bình luận trái chiều. Tuy nhiên điều rõ thấy nhất là trang mạng DANLAMBAO đã " câm mồm" vì bị lusonquelam điểm trúng huyệt ! Số người thường theo "lề trái" cố chạy tội cho Huỳnh Tâm và danlambao bèn đánh lạc hướng cuộc tranh luận. Họ quên chuyện Huỳnh Tâm bịa đặt ngu ngốc mà nhân cơ hội này nói xấu Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh - một việc làm quyen thuôcbằng cách chuyển hướng sang chủ đề khác. Đó là nói xấu Đàng CSVN, chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền CM bằng những lời lẽ hằn học và thiếu văn hóa . Đây là cách mà các nhân vật ( đa số ký tên nặc danh -hoặc tên giả không lộ nguồn gốc) thường xử dụng trên các trang mạng xã hôi . Chúng ta không lạ. Dù có đọc họ thì cũng không ai mù quáng tin họ cả !
Xin giới thiệu ( thí dụ) với các cụ bài của chúng ta đã được đăng lại trên 1 vài trang mạng dưới đây

Blog Bùi văn Bồng
ĐỪNG BỊA ĐẶT THÔNG TIN
http://bongbvt.blogspot.com/2015/06/ung-bia-at-thong-tin.html

(Blog Tre xanh )
DÂN LÀM BÁO BỊ VẠCH MẶT
http://trelangblogspotcom.blogspot.com/2015/06/dan-lam-bao-bi-vach-mat-va-anh-cam-mom.html

( Mạng Dân Luận)
:" Kỳ Vinh Hưng - MỘT SỰ BẤT TÍN VẠN SỰ BẤT TIN !
https://www.danluan.org/tin-tuc/20150602/ky-vinh-hung-mot-su-bat-tin-van-su-bat-tin

CÓ PHẢI NGA VÀ TRUNG QUỐC ĐANG KIỀM TỎA VIỆT NAM ? ( Tham khảo )

NGUYỄN TRẦM SÂM
Trong những ngày này, một trong những mối quan hệ “đối tác” quan trọng của Việt Nam – quan hệ Việt-Nga – đang lộ ra như một rào cản lớn cho sự phát triển theo hướng văn minh của dân tộc ta. Đặc biệt khi VN đang có ít nhiều cơ may thoát khỏi sự lệ thuộc tệ hại vào Tàu Cộng do chính thái độ ngang ngược của phía Tàu Cộng mang lại, những động thái của chính quyền Putin trong mối quan hệ tay ba Nga-Trung-Việt đang làm suy giảm đáng kể những cơ may đó. Ta hãy xem lại mối quan hệ tay ba đó để thấy rõ nguy cơ này. Như chúng ta đều biết, mối quan hệ Việt-Nga hiện nay trong chừng mực đáng kể là sự kế thừa mối quan hệ Việt-Xô trước đây. Thực ra thì nó gần như đã bị cắt đứt khi Liên Bang Soviet tan rã và Boris Yeltsin trở thành tổng thống LB Nga. Vì quá nhiệt thành ủng hộ cuộc lật đổ Mikhail Gorbachëv do nhóm của Yanayev tiến hành ngày 19 tháng 8 năm 1991, chính quyền VN đã bị lỡ trớn trong quan hệ với chính quyền của Boris Yeltsin. Mặt khác, do thái độ dứt khoát của Yeltsin trong việc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chính quyền VN thực sự e ngại việc đặt quan hệ với nhân vật này. Vào ngày cuối cùng của năm 1999, Putin đã gặt hái thành công trong việc ép được Yeltsin nhường ngôi cho mình. Chính quyền VN đã lợi dụng cơ hội này để tìm cách làm thân với ông chủ mới của Kreml. Do phía VN hết lời ca ngợi công đức của nước Nga trước đây và ca ngợi tài cao đức trọng của Vladimir Putin, đồng thời do chính nhân vật này không bài cộng như ông chủ cũ, chính quyền VN đã thành công trong việc tái lập quan hệ Việt-Nga. Mối quan hệ này càng trở nên nồng ấm hơn, khi Putin phát hiện ra mối lợi lớn thu được từ nó – đó là lợi lộc của việc cùng khai thác dầu khí ở biển Đông. (Con số gần 1 tỉ USD phần lợi nhuận của phía Nga tuy không lớn đối với GDP của một quốc gia 140 triệu dân, nhưng khi nó là thu nhập đem về từ nước ngoài thì đó là một món rất béo bở đối với một nhóm quyền lực gần như không có đối lập.) Từ đó đến nay, mối quan hệ Việt-Nga không ngừng nảy nở (đặc biệt vì trong số quan chức cao cấp VN có nhiều vị từng kiếm bằng cấp ở Nga, và vị thế của những vị này phụ thuộc khá nhiều vào mối quan hệ đó). Một trong những dấu mốc của nó là việc ký kết nâng mức quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện”. Thực ra, trong thâm tâm, mặc dù coi mối quan hệ với ông anh Tàu cùng chế độ là quan trọng số 1, chính quyền VN đôi khi vẫn gặp những điều khó chịu do ông anh tham lam và tàn độc này gây ra. Vì vậy, họ vẫn phải tìm kiếm những mối quan hệ với các nước lớn khác để nhờ cậy và mong được những nước khác này bênh vực để khỏi bị ông anh hoang dã ăn hiếp quá đáng. Trong những nước lớn đó, Mỹ cũng là lực lượng mà chính quyền VN không thể không để ý tới, nhưng đối vợi họ thì Nga vẫn là địa chỉ có độ tin cậy cao nhất. Ngoài những lợi lộc về kinh tế, người Nga cũng cần lôi kéo VN (và các nước khác) để tăng thêm thanh thế, do chính quyền Nga từ xưa đến nay chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng muốn làm anh chị thiên hạ. Về mặt quân sự, việc VN vẫn để cho Nga sử dụng một phần cảng Cam Ranh tạo cho Nga một lợi thế trong việc tham gia thao túng tình hình biển Đông và phần tây-nam Thái Bình Dương. Mối quan hệ Nga-Trung thì phức tạp hơn nhiều. Ngay từ khi còn là “đồng chí”, người Nga và người Tàu đã từng choảng nhau, một phần vì tham vọng lãnh thổ, nhưng phần chính là vì tranh quyền thao túng phong trào cộng sản quốc tế. Mặc dù cùng coi Mỹ vừa đối thủ cạnh tranh quyền lực, vừa là “kẻ thù tư tưởng”, TQ từng bắt tay với Mỹ để hại Nga, và Nga cũng từng ngoắc tay với Mỹ để cô lập Tàu. Nhưng hiện tại, Mỹ đang như vật ngáng đường đối với cả Nga và TQ, và do đó Nga và Tàu buộc phải liên kết với nhau để chống Mỹ. Mâu thuẫn giữa một bên là Mỹ và phương Tây, bên kia là Nga và Tàu, không chỉ là vấn đề cạnh tranh quyền chi phối thế giới, mà còn vì sự tồn tại của phương Tây tạo động lực cho sự hình thành các lực lượng chống chế độ độc tài. Hiện tại, Putin đang coi TQ như đối tác quan trọng nhất. Vì tầm quan trọng của mối quan hệ với Bắc Kinh, Putin đã hoàn toàn im lặng khi TQ gây hấn ở biển Đông vào năm ngoái. Hơn thế, ngay trong thời gian đó, Putin còn cho quân tập trận chung với quân Tàu. Việc làm này giống như cái tát vào mặt chính quyền VN. Tất nhiên, khi gặp riêng quan chức hàng đầu của VN, Putin lại tìm cách vuốt ve và trấn an họ theo cách nào đó, và họ cũng phải bằng lòng. (Hơn nữa, việc gây hấn thì những kẻ phải chịu là dân đen chứ đâu phải mấy vị ngồi phòng lạnh, nên việc chịu đựng đối với các vị ấy cũng đâu phải quá khó!) Một động thái mang tính bề nổi nhưng thể hiện rất rõ sự trọng thị đặc biệt đối với TQ là việc Putin sắp xếp cho Tập Cận Bình và vợ ngồi ngay cạnh mình và liên tục chuyện trò ra chiều tâm đắc trong ngày lễ kỷ niệm 70 chiến thắng phát-xít vào ngày 9 tháng 5 vừa qua tại Moskva. Một việc cần được cắt nghĩa rõ ràng là việc Nga bán vũ khí cho VN, trong đó có máy bay chiến đấu và tàu ngầm khá hiện đại. Tất nhiên, trong việc này, Nga cũng có ý ngầm nhắn nhủ TQ đừng có ý chơi xỏ Nga, đồng thời cũng còn là vì vấn đề lợi nhuận: đã sản xuất thì phải bán lấy tiền đút túi. Thái độ bênh Tàu trước Mỹ còn thể hiện rõ hơn trong bài diễn văn của thứ trưởng quốc phòng Nga Anatoly Antonov tại diễn đàn Shangri-la. Trong diễn văn, sau nhiều đoạn dài chỉ trích Hoa Kỳ, ông ta nói: “Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi đặc biệt quan ngại về chính sách của Hoa Kỳ trong khu vực này (biển Đông), nhất là vì nó ngày càng hướng vào việc kiềm tỏa Nga và Trung Quốc.” Ông ta chỉ trích Mỹ “gây sức ép với VN” đòi Nga rời bỏ căn cứ tiếp liệu cho tàu và máy bay ở Cam Ranh. Ông ta cũng tuyên bố về việc sắp tới quân Nga sẽ tập trận tại biển Đông, cùng với TQ và vài quốc gia khác. (Xem structure.mil.ru/structure/forces/type.) Rõ ràng, Antonov kịch liệt chống lại sự can dự của Hoa Kỳ vào tình hình biển Đông. Việc này có nghĩa là TQ cùng với Nga phải là những lực lượng chính làm chủ vùng này. Và VN cần phải ngầm hiểu rằng việc muốn có một lực lượng như Hoa Kỳ tham gia kiểm soát tình hình biển Đông là sai trái. Rõ ràng, người Nga đang dùng ảnh hưởng của mình đối với VN để bao vây VN, hạn chế quan hệ của VN với Mỹ và phương Tây nói chung. Và trong sự phối hợp hành động với TQ, người Nga rất dễ thực hiện được ý đồ này. Một bối cảnh không sáng sủa đang hiện dần ra trước mắt chúng ta. 
 NGUYỄN TRẦN SÂM
----------------------------------------------------------------
Nguồn mạng xã hội .

BÀI THƠ VỀ TÌNH BẠN DO CỤ KHOA PHI SƯU TẦM

      TÌNH BẠN MÃI CÒN XUÂN

( Thơ khuyết danh do Khoa Phi sưu tầm )

Cứ gọi mày, xưng tao ;
 Như cái hồi đi học
Dù nhôm nhoam màu tóc
Dù hói nửa mái đầu
Dù ông nội , ông ngoại
Kính lão loá mắt nhau.

Hãy gác ngay bằng cấp
Ở học viện, cơ quan
Hãy quên đi quyền chức
Cấp bậc với quân hàm
Mang thằng người trần trụi
Về đây cùng liên hoan

Răng muốn trắng lại đen
Tóc muốn đen lại bạc
Chức quyền chẳng hề cao
Chỉ có cao huyết áp

Bạn bè thì xa cách
Cuộc sống tính từng giờ
Vui, tìm mãi không gặp
Buồn, bổ vây bất ngờ...

Gặp được nhau là khó
Lá đã rụng thành hàng
Ôi! Những thằng bạn học
 
Sao tên vào nghĩa trang ?
Nào, mừng còn gặp mặt
Tao, mày trăm phần trăm
Không ai không uống được
Say cho đời sủi tăm
Say ôm nhau mà hát
Về cái thời xa xăm...

Nào nâng cốc ta uống
Hình như...Xuân vừa sang ?

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

TRUNG QUỐC NGANG NGƯỢC

Vì Sao Trung Quốc Thách Thức Cả Thế Giới Trong Cuộc Tranh Chấp Trên Biển Đông Hiện Nay? 

(Nguyễn Trọng Bình)
1 Tháng 6 2015 lúc 19:50

1. Câu chuyện biển Đông lại một lần nữa nóng lên kể từ khi Mỹ điều máy bay do thám và công bố những hình ảnh bồi đắp, cải tạo xây dựng các đảo mà trước đây họ đã dùng vũ lực cướp từ tay Việt Nam. Việc làm này của Trung Quốc hiện đang bị dư luận và cộng đồng thế giới lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Tuy vậy, có thể thấy không riêng gì lần này, mỗi khi bị cộng đồng thế giới chỉ trích thì gần như ngay lập tức Trung Quốc phản ứng lại với một thái độ và tâm thế không hề nao núng (nếu không muốn nói là rất tự tin và đầy kiêu hãnh). Tại sao như vậy? Tại sao Trung Quốc dù nghe hết, biết hết những gì dư luận thế giới nói về mình nhưng họ vẫn cứ làm với thái độ bất chấp tất cả?
Đặt ra vấn đề trên để thấy rằng, lâu nay, trong cuộc tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, đa phần chúng ta chỉ xem xét vấn đề ở phương diện nào có lợi cho ta nhất mà thôi. Điều này là đương nhiên. Tuy vậy, nếu như thế có khi nào là chủ quan và duy ý chí vì như người xưa nói “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”?
Lịch sử và văn hóa Trung Quốc cho thấy họ là bậc thầy của chiêu thức “binh bất yếm trá”. Vì vậy một tinh thần cảnh giác thường trực và cao độ với Trung Quốc sẽ không bao giờ thừa. Đặc biệt, đừng bao giờ chủ quan cho rằng“không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam” hay như có người phát biểu“tôi không bất ngờ về việc làm của Trung Quốc hiện nay”. Thực ra, nói như thế là ngụy biện vì nếu đã hiểu rõ bộ mặt thật họ vậy sao cứ chơi và xem họ là “bạn thân”, là “đồng chí tốt”? “Bạn” và “bạn thân” là hai vấn đề, hai quan điểm, hai lập trường rất khác nhau chứ? Ai đời đã biết cái đứa năm lần bảy lượt đâm sau lưng mình mà vẫn kết thân với nó? Nói ra điều này chỉ càng làm cho người bên ngoài họ cười vào mặt mình mà thôi.
Nói cách khác, trong bất cứ mọi thời điểm mọi hoàn cảnh, cần thiết chúng ta phải tự đặt ra thật nhiều giả thiết và tự phản biện lại tất cả các giả thiết ấy để thấy rõ hơn đâu là điểm mạnh đâu là điểm yếu của mình. Có như vậy mới không bị động và may ra mới tìm được giải pháp tối ưu nhằm đối phó với sự ranh ma của Trung Quốc.
2.  Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông? Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:
Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của Trung Quốc (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.
Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau:
 “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông - ngũ long nộ hải - thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.

Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác. Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng  thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm 1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạn bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.

Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”...

Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, mục tiêu của họ là kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu“tiên hạ thủ vi cường/ Hậu thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.

Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung - Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung - Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.
3.  Từ những phân tích trên có thể nói, hiện nay nhìn toàn cục Trung Quốc đang nắm thế chủ động hơn so với Việt Nam và các nước khác tuyên bố chủ quyền ở Biến Đông. Đó chính là lý do thời gian qua mặc cho Philipines kiện họ ra tòa quốc tế và mặc cho Bộ ngoại giao Việt Nam liên tiếp gửi các công hàm phản đối nhưng họ vẫn chẳng coi ra gì.
Từ đây, trên phương diện nhận thức chung, để đối phó và tạo ra ưu thế cho mình trong cuộc đối đầu này, Việt Nam, theo tôi nhất định phải tập trung vào các nhóm vấn đề quan trọng sau đây:
Một, phải thay đổi tư duy trong cách tiếp cận vấn đề, tức là điều quan trọng bây giờ là phải hết sức cảnh giác đồng thời tập trung mọi nguồn lực nhằm giữ vững các đảo hiện tại đang nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác vấn đề bây giờ là không để mất thêm đảo nào nữa vào tay Trung Quốc chứ không phải nói như ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam dạo nào:“Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ đòi lại”.[1] Thử hỏi tại sao bây giờ không quyết liệt đòi, không tự tin sẽ đòi lại được mà nhắn gửi, dặn dò con cháu như thế? Nói như thế khác nào đã công khai thừa nhận sự thất bại của mình hiện nay đồng thời đẩy quả bóng trách nhiệm cho thế hệ mai sau? Và phải chăng thế hệ lãnh đạo trước đây cũng từng suy nghĩ như vậy, cũng từng “trăn trối” và nhắn gửi thế hệ lãnh đạo của ông Phó Thủ tướng hôm nay nhưng các ông cũng làm được gì đâu!?
Hai, cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ thay Việt Nam “bảo vệ nguyên tắc luật pháp quốc tế trên biển Đông”[2]  và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà họ đang kiểm soát. Điều đó cũng có nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay nếu còn chần chừ không thể hiện rõ ràng dứt khoát, lập trường quan điểm của mình chắc chắn Việt Nam mãi mãi chỉ là con tốt không hơn không kém trên bàn ngờ ngoại giao một khi Trung Quốc “bắt tay” với Mỹ bằng chiến thuật lùi một bước để tiến nhiều bước...
Và quan điểm và lập trường ở đây không phải là Việt Nam nên “theo ai” hay “ngã về bên nào” mà là cần nhanh chóng chấm dứt trò chơi “đu dây” đầy mạo hiểm với việc lấy cảng Cam Ranh ra để giữ thăng bằng. Hay tệ hơn nữa là tâm lý “tọa sơn quan hổ đấu”!
Ba, về mặt đối nội Đảng, Quốc hội Việt Nam cần nhanh chóng ra Nghị quyết nhằm tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tình hình biển Đông hiện nay, đặc biệt nội dung bản Nghị quyết phải thể hiện rõ tinh thần hiệu triệu như lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Tức là “chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới vì họ muốn cướp đảo của ta lần nữa...” Theo tôi, mọi chuyện đã đến nước này thì không còn gì mà giấu giếm, úp mở với nhân dân hay ngụy biện vì là chuyện “nhạy cảm”, “tế nhị” nên Quốc hội chỉ “họp kín”. Nếu ra được Nghị quyết lúc này về trước mắt sẽ ổn định được lòng dân còn về lâu thế hệ con cháu mai sau còn có cái để mà “ăn nói” với Trung Quốc (hay nếu như muốn tiếp tục “đòi lại” các đảo bị Trung Quốc cướp mất như lời dặn dò của ông Phó Thủ tướng mà tôi vừa đề cập ở trên). Và nhất là để lịch sử mai sau còn viết vào đó lại vài dòng ghi nhận công lao của thế hệ lãnh đạo hôm nay chứ không phải là không là những lời nguyền rủa nhu nhược, hèn kém.
Cuối cùng, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã làm. Cho dù Trung Quốc hiện nay không coi luật pháp quốc tế ra gì nhưng cần phải kiện họ vì chỉ có cách này cộng đồng quốc tế mới tin tưởng và ủng hộ Việt Nam nhiều hơn. Khi ấy Mỹ và các đồng minh Nhật, Úc... mới có “cơ hội” giúp Việt Nam ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc. Hiện nay, chính vì Việt Nam cứ ỡm ờ, không dám kiện nên cộng đồng quốc tế họ hoài nghi. Mình cứ nói “chính nghĩa” và “lẽ phải” thuộc về mình nhưng lại không cho thấy quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa” và “lẽ phải” đến cùng thì làm sao người ta tin những gì mình nói.
Ngoài ra, khởi kiện bây giờ cũng là phòng tránh một sự lật lọng của Trung Quốc về sau. Tức là trong trường hợp sau khi hoàn thành việc cải tạo các đảo hiện nay, với sức mạnh và sự ảnh của một “nước lớn” có thể họ sẽ kiện ngược lại Việt Nam. Khi ấy với tư cách là “bị đơn” lại là “nước nhỏ”, Việt Nam rất khó thoát ra khỏi sự điều khiển của họ. 
--------------------------------------------------------------------
Nguyễn Trọng Bình
Cần Thơ, 30/5/205

[1] “Nhất định đòi lại Hoàng Sa” - http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/nhat-dinh-phai-doi-lai-hoang-sa-404182.html

[2] “Cần tích cực giúp Mỹ bảo vệ các nguyên tắc luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. http://nhantuantruong.blogspot.com/2015/05/can-tich-cuc-giup-my-bao-ve-cac-nguyen.html

Nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/NTrongBinh_ViSaoTQThachThuc.htm

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Cụ Ngọc Hùng từ San Francisco kể chuyện học hành của trẻ con Việt nhập cư Mỹ .

Nhân đọc bài viết thú vị của Cụ Calathau tại Blog cá nhân của cụ, về “cháu gái nhận bằng tiến sĩ học viện … mẫu giáo”, tôi xin gửi tới các cụ Làng Ta một vài cảm nhận về những điều tôi THẤY TẬN MẮT trong 5 lần “tư du” Hoa Kỳ về chế độ giáo dục của “tên đế quôc đầu sỏ” này.

Làm sao “nuốt gọn” tất cả trẻ em nhập cư vào các trường?

Hai cháu gái sinh đôi, gọi tôi bằng ông ngoại, sang Mĩ năm 2005, khi chúng vừa học xong lớp 2. Cuối năm 2006, đúng dịp chúng kết thúc học kì 1 lớp 3, tôi sang thăm mẹ con chúng lần đầu tiên. Điều muốn tìm hiểu là làm sao chúng học được lớp 3 ngay mà không phải mất một thời gian “dự bị” học tiếng Anh? Chúng lại còn được “giấy khen” nữa!
Mẹ các cháu kể: Khi mới sang, nhập học, mẹ cháu cũng xin cho các cháu học lại lớp 2 để làm quen dần tiếng Anh. Nhưng cô hiệu trưởng xem học bạ rồi nói: Tất cả đều điểm giỏi thế này, vào ngay lớp 3 được! Thế là hai đứa bé 8 tuổi bị thả cho “bơi” ngay lớp 3 tại Mỹ, khi chưa hề biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi!
Thì ra là họ có phương pháp riêng để dìu dắt những học sinh nhỏ tuổi bước vào những lớp đầu cấp 1. Trong những giờ học đầu tiên, các cháu nhỏ chưa nghe được gì cả. Sau giờ chính khoá, các giáo viên gốc Việt có trách nhiệm kèm cặp 2 cháu tôi. Mọi sự chậm trễ về nhận thức đều được cảm thông, không bị mắng mỏ hay một hình phạt nào. Giáo viên luôn khuyến khích các bạn cùng lớp giao tiếp với bạn mới như một phương pháp giúp bạn mới hoà nhập và làm quen với ngôn ngữ hanh hơn. Giấy khen cuối học kì 1 lớp 3 của 2 cháu tôi không phải là khen về thành tích học tập, mà đứa thì được khen vì “vui vẻ hoà đồng”, đứa thì “khéo tay giúp bạn”. Thế là khen thực chất, không ù xoẹ như “giỏi toàn diên” đồng loạt ở Ta, nhưng vẫn có í nghĩa động viên, giúp trẻ tự tin hơn.
Có lẽ cái sự khen ấy, cùng với những nỗ lực kèm cặp kiên trì hằng ngày, mà hai cháu tôi đã hoà nhập khá nhanh. Từ lớp 4 trở đi, chúng đã bắt đầu được khen cụ thể về kết quả học tập. Đến giờ, chúng vẫn nói hồi ấy (vào lớp 3) học được vì hầu như các kiến thức toán đều đã biết từ khi học lớp 2 ở VN. Thế là chương trình toán lớp 2 của ta… cao hơn lớp 3 cùa Mỹ đấy! Nghe có vẻ “oách”. Nhưng thực ra là quá nặng với khả năng tư duy của trẻ 7- 8 tuổi!
Vào học kì 2 lớp 3, tôi cùng mẹ cháu đưa chúng đến trường. Thật ngạc nhiên khi thấy mỗi đứa toòng tenh một cái ba lô nhỏ síu đựng ba thứ linh tinh, chẳng có sách vở gì cả! Đến lớp mới thấy tất cả sách giáo khoa, vở viết và các dụng cụ học tập cần thiết đã có sẵn trên bàn của mỗi học sinh. Chính phủ “bao cấp” hết! Giáo viên có trách nhiệm đặt những thứ ấy vào bàn của học sinh. Học xong, tất cả sách vở, dụng cụ ấy để lại ở trường. Thỉnh thoảng lắm mới có “home works” (bài làm ở nhà). Vậy là thời gian học ở trường giáo viên phải đảm bảo cho học sinh tiếp thu và làm bài tập hết rồi. Ra khỏi trường thì học sinh tiểu học chỉ có… chơi thôi! Tội nghiệp cho các cháu nhỏ của chúng ta khi mỗi đứa một cặp nặng chịch và vô số bài tập về nhà mỗi ngày!
Lần này tôi sang thì 2 cháu gái tôi đã tốt nghiệp lớp 12 và cả hai đều được nhận vào đại học “university” hẳn hoi, chứ không phải là college hay institute đâu nhé. Và chúng nói tiếng Anh hoàn toàn giọng Mỹ mà các thày cô trường High School hoàn toàn không nghĩ chúng mới nhập cư khi đã 8 tuổi.
Trường hợp thứ hai là anh ruột của hai cháu sinh đôi nói trên. Cháu trai này sang Mỹ năm 2009, khi đã học xong lớp 9 ở VN. Cháu đã được tôi chuẩn bị cho việc sang Mỹ bằng 1 năm học ở nhà, không vào lớp 10 phổ thong. Năm ở nhà ấy để bù hết các lỗ hổng của toán, lí, hoá và học tiếng Anh. Kết quả, khi sang Mỹ, mặc dù muộn so với khai giảng, nhưng cháu được nhận vào học lớp 10 ngay, không phải học tiếng Anh như các trẻ nhiều nước khác nhau mới nhập cư cùng nhập học.
Nhưng làm sao một học sinh biết tiếng Anh “tàm tạm” mà theo nổi chương trình lớp 10 của Mỹ giảng dạy toàn tiếng Anh? Đương nhiên, cháu tôi phải “lao động cật lực” lắm trong 6 tháng đầu tiên. Mẹ nó kể: Ngày nào nó cũng học 6 giờ liền ở nhà sau khi ở trường về lúc 3 giờ chiều mỗi ngày. Không có thứ bảy chủ nhật gì hết. Nhưng cách dạy của Mỹ đối với diện nhập cư khi đã lớn tuổi này là tự chọn “ban” phù hợp với khả năng. Cháu tôi chọn ban xã hội, chỉ phải học 6 môn. Khi tốt nghiệp lớp 12 (năm 2012), cháu tôi là một trong 40 học sinh giỏi trong tổng số 400 học sinh ra trường (không có chuyện cả lớp “giỏi” như ở Ta đâu). Cậu ta còn được là một trong 2 học sinh có trình độ tiếng Anh tốt nhất trong số mới nhập cư 3 năm, được nhận học bổng 500 USD khi vào đại học!
Thì ra, nền giáo dục Mỹ có phương pháp dạy phù hợp để “nuốt trọn” hàng triệu học sinh nhập cư từ rất nhiều quốc gia khác nhau vào xứ sở Cờ Hoa này!
Chuyện này dài rồi. Lần sau tôi xin có lời khuyên tới các cụ nếu có í định cho các cháu (con chúng ta đều trung niên hết rồi nhỉ) đi du học Mỹ./.
--------------------------------------------------------
Viết từ San Francisco, California, ngày 03/6/2015.
NGUYỄN NGỌC HÙNG (K1)

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Ý KIẾN CỦA CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC ĐĂNG LẠI TRÊN Blog BÙI VĂN BỒNG

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

TIN VÀO THỨ GÌ GIỮA MỘT THẾ GIỚI TAO LOẠN !

Trần Công Thanh (K4)
Hồi này người ta hay nói nhiều tới chuyện đạo nghĩa về “Tình láng giềng” & “Tình hữu nghị” giữa hai nước Việt Nam & Trung Quốc. Và cho rằng “Việt Nam & Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” không thể tách rời nhau được; phải gắn bó với nhau “như môi với răng” & đó là do số kiếp định mệnh tại sách trời.
Ô hay ! Từ ngàn xưa đến nay đã có người dân Việt Nam nào không thấu hiểu điều đó! Vì nó là đạo lý, là chân lý & qui tắc sinh tồn không những của hai dân tộc Việt  Nam &Trung  Quốc mà còn là của vạn vật nữa.
Tuy nhiên, cũng nên đặt câu hỏi tại sao trong lịch sử Trung - Việt lại có những trang chéo hèo như thế này:

- Năm 40, Hai Bả Trưng lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Đông Hán ?
- Năm 248, Bà Triệu lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Đông Ngô?
- Năm 541, Lý Bí lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Nhà Lương?
- Năm 713, Mai Thúc Loan lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Nhà Đường?
- Năm 905, Ngô Quyền lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Nam Hán?
- Năm 981, Lê Đại Hành lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Đại Tống?
- Năm 1075, Lý Thường Kiệt lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Tống?
- Năm 1258-1288, Các vua Trần lãnh đạo dân Việt đánh bại quân Nguyên Mông?
- Năm 1427, Lê Lợi lãnh đạo dân Việt đánh bại quân Minh?
- Năm 1858, Nguyễn Huệ lãnh đạo dân Việt đánh bại quân Mãn Thanh?
- Năm 1979, Đảng Cộng sản VN lãnh đạo dân Việt đánh đuổi quân Đảng Cộng sản Trung Quốc xâm chiếm 06 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam?
Qua đó cho thấy, trong chiều dài lịch sử suốt hàng ngàn năm, nhân dân Việt Nam chưa bao giờ gây ra chuyện xích mịch với nhân dân Trung Quốc. Vì vậy, không có chuyện “Tình láng giêng”, “Tình hữu nghị” giữa nhân dân Việt Nam & nhân dân Trung Quốc bị tổn thương, bị đánh mất.
Có thể thấy rõ điều đó thông qua quan hệ giữa cách mạng Việt Nam & cách mạng Trung Quốc trong lịch sử hiện đại. Suốt từ năm 1930 đến năm 1945 & cả trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp & chống xâm lược Mỹ, nhân dân Trung Quốc vẫn tận tình đùm bọc giúp đỡ cách mạng Việt Nam; là hậu phương lớn của hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhân dân Việt Nam.
Còn những mâu thuẫn xung đột giữa Trung Quốc & Việt  Nam xẩy ra trong suốt chiều dài lịch từ xưa đến nay, không phải do nhân dân Trung Quốc gây ra; mà do chính bọn cầm quyền phản động các chế độ nhà nước Trung Quốc gây ra. Vì vậy, đối với nhân dân Trung Quốc nhân dân Việt Nam cần tiếp tục xây đắp & giữ gìn “Tình láng giềng”, “Tình hữu nghi” vốn có lâu đời. Còn đối với bọn cầm quyền phản động Trung Quốc thì làm sao lại có thể là “Tình láng giềng” tốt đối với bọn rắp tâm đi xâm chiếm đất nước mình được, vì trong đầu óc bọn chúng luôn luôn túc trực âm mưu thôn tính, chinh phục nước Việt nam ta.
Để cảnh giác với âm mưu bành trướng của bọn  bành trướng  bá quyền Trung Quốc, dân ta càng phải ra sức giữ vững chí khí chiến đấu, không nề sợ gian khổ, hy sinh, sẵn sàng xả thân bảo vệ non sông bờ cõi, không được để “mất một tấc đất của Tổ Quốc” rơi vào tay bọn bành trướng xâm lược.
Ý thức về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ & chủ quyền quốc gia của mọi người dân Việt Nam lúc nào cũng sáng tỏ, đúng như tuyên ngôn bất hủ của Lý Thường Kiệt cách đây 10 Thế kỷ:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!”
Và lời dạy của Bác Hồ kính yêu khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thần thánh, năm 1954:
“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nươc”.

Cùng với ý chí chiến đấu, bất khuất đã trở thành truyền thống dân tộc: “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”;  phải “Đánh đến tận cái lai quần cuối cùng” nhằm bảo vệ vững chắc non sông bờ cõi Việt Nam dotổ tiên ta để lại./.

KTS. TRẦN CÔNG THANH