Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược Bộ CA

SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT
Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc Kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây. 
        Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.
Le van Cuong
Thiếu tướng Lê Văn Cương
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.
Điều thứ nhất: Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.
Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì rấn tới.
        Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tỉnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.
        Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều này tôi muốn nói là không có gì mới.
Điều thứ ba là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.
        Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!
        Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải 9 trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng 900 ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.
        Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải … Anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà….cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.
        Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của Việt Nam thôi.
        Ý chí người dân quy tụ 90 triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như 90 triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.
Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.
Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?
Thiếu tướng Lê Văn Cương:
        Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.
        Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.
        Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không dấu diếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.
        Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.
***
 Một lá thư tâm huyết

Phùng Liên Đoàn, 75 tuổi, kỹ sư nguyên tử, hưu
doanlphung2@gmail.com

KG thiếu tướng Lê Văn Cương:

Tôi rất kính phục những phát biểu của thiếu tướng về những hành động thiếu văn minh của một số diều hâu Trung Quốc, và sự yên lặng khó hiểu nếu không nói là hèn nhát của BCT đảng cộng sản Việt Nam.

Không đâu, ông Phạm Bình Minh có thể nói, và nói rất nhiều, nhưng ông bị bịt miệng bởi cấp trên; cũng như quân đội ta bị cấm chống trả và bị tiêu diệt năm 1988 ở đảo Gạc Ma.

Tàu rất man rợ. Chúng nói tới chuyện tiêu diệt Hanoi, Saigon… Trong chiến tranh biên giới 1979, chúng đã giết đàn bà, con trẻ, gia súc… bất cứ những gì có thể cử động. Chúng quên cái nhục Nhật Bản cũng làm như vậy với dân lành TQ vào những năm 1930-1940, ví như tại Nam Kinh. Mỹ thì khác, không có Tôn Tử, Khổng Tử, nhưng trong chiến tranh, họ cố gắng tránh những nơi có nhiều dân và còn giúp cho dân lành bị nạn. Tàu nên định nghĩa lại thế nào là quân tử.

Tôi đồng ý với TT Lê Văn Cương là một vài cái tàu ngầm, vài cái máy bay… sẽ chỉ là đồ chơi so với sức mạnh của Trung Quốc. Ta cần có ý chí, nhưng làm sao có ý chí khi lãnh đạo im như hến, không dám phản đối khi dân chài lưới bị đánh đập, tịch thu cá, và đâm vỡ thuyền bè?

Ở thời mới, ta phải nhìn rộng hơn các ông vua trong lịch sử, vì họ không có tầm nhìn, không biết chăm lo cho người dân, bê tha đến nỗi để đất nước bị nô lệ. Ta có những anh hùng áo vải nổi lên đánh ngoại xâm, hi sinh rất nhiều xương máu để dành độc lập. Sau đó một chu kỳ hưởng thụ mới bắt đầu, vua quan và các thái tử đảng thao túng, làm người dân điêu linh, không phải là giống như trước, nhưng so sánh một vực một trời với người dân các nước khác. Ta tiếp tục cho con em đi làm nô lệ và gái điếm khắp nơi trên thế giới, tự dối là “xuất khẩu lao động”.

Lật bài ngửa là tốt nhất khi so sức mạnh 1:30 giữa ta và Trung Quốc. Liên minh với Mỹ. Xung phong đem quân đi giữ hòa bình trên thế giới để thế giới trả ơn ta.

Và đây là chiến lược TQ phải sợ.

Người ta đã tìm đủ mọi cách cấm vũ khí hạt nhân. Ta không có người, không có tiền, cho nên không nên ngu muội bắt chước Triều Tiên; và cũng không nên mơ hão huyền là xin được một nhà máy điện hạt nhân là dần dần ta sẽ có sức nguyên tử. Trí thức VN mau thức tỉnh, mau thực tế.

Ta cần bắt chước Pháp đào tạo một đội ngũ Force de Frappe. Đội ngũ này không cần bom nguyên tử như Pháp hoặc Israel hoặc Triều Tiên. Ta chỉ cần ẩn mình cho kỹ, cho rãn ra, để khỏi bị tiêu diệt bất ngờ. Ta nói trước, nếu đánh tôi thì tôi sẽ phá đập Tam Hiệp, làm cả vùng đồng bằng Dương Tử bị lụt, Tàu sẽ chết hằng trăm triệu người, và tài sản sẽ mất đi cả ngàn tỉ. Các mục tiêu kinh tế khác giá ngàn tỉ USD trên sông Mekong, Tây Giang, và vùng kinh tế Quảng Châu cũng sẽ là mục tiêu của Force de Frappe.

Thực hiện một Force de Frappe, với đội ngũ tinh nhuệ luôn luôn thay đổi, với vài chục máy bay tối tân hoặc vài trăm máy bay nhỏ, với các bom 1000 tấn TNT… và nhất là với ý chí cao, thì Tàu chiếm Hanoi, Saigon hoặc cắt hai VN để làm gì?

Quan trọng là ý chí, trí tuệ, và tin ở người dân. Tin người dân không gì bằng quên mình mà phục vụ dân.

Kính thư,
Phùng Liên Đoàn, 75 tuổi, kỹ sư nguyên tử, hưu

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

PHƯƠNG PHÁP MỚI RÈN LUYỆN THỂ LỰC : DỄ DÀNG - NHẸ NHÀNG- HIỆU QUÁ


1. Tập như thế nào ?
2. Mang lại tác dụng gì ?
3. Ai là sư phụ của môn phái này ?
-----------
Cụ Tú Riềng (nhà tài trợ chính ) treo giải thưởng như sau :
- Trả lời đúng 1 câu : 01 ly cafe đá
- Trả lời đúng 2 câu : 01cafe đá + 01bát cháo lòng
- Trả lời đúng cả 3 câu : cafe + cháo lòng + đĩa lòng thập cẩm

Các cụ chỉ có thể biết được sau khi liên lạc với cụ Tú Riềng Làng Cu Lờ ! 


Thông báo (22/6 ) : Các thí sinh giỏi nhất cũng chỉ mới trả lời được 01 câu hỏi. đó là câu Ai là sư phụ của môn phái này ( người đang tập )  . Trả lời đúng : Cụ Dặng Việt Hùng.

2 câu hỏi trước chỉ cần trả lời ngắn gọn "
-  Tập như thế nào ?
-  Tập "võ" này có tác dụng gì ?


cafe chồn , cháo lòng, lòng lợn đang chờ các cụ ! Hãy cố lên  !

"NHÀ BÁO NÓI THẬT ĂN ĐÒN " ?

( NGUYÊN VĂN " LÀM BÁO NÓI LÁO ĂN TIỀN "
FB Nguyễn Trọng Tạo

14-06-2015
“Làm báo nói láo ăn tiền”, đó không phải chữ của tôi mà là chữ của nhà báo “kiệt hiệt” Vũ Bằng trong cuốn “Bốn mươi năm nói láo” (1969) của ông.

Lâu nay tôi chỉ nghe câu “nhà văn nói láo (hư cấu) nhà báo nói ngay” chứ chưa nghe “nhà báo nói láo” bao giờ. Nhưng khi đọc xong cuốn “Bốn mươi năm nói láo” của nhà văn nhà báo Vũ Bằng, tôi mới ngộ ra rằng, đó chỉ là cách nói phiếm chỉ của ông – một người làm báo chân chính – đối với không ít “nhà báo nói láo ăn tiền” thời nào cũng có. Đó là những người mang danh “nhà báo” nhưng chỉ là bồi bút, cơ hội, xuyên tạc sự thật để cầu danh hưởng lộc.

Không có gì nhục nhã và tởm lợm hơn khi người ta cầu danh hưởng lộc bằng sự giả trá đi ngược lại Sự Thật.

Nhưng né tránh Sự Thật cũng là một tội lớn.

Nhiều khi xem báo lại cứ tưởng đó là báo của ngày 1 tháng Tư – ngày nói dối.

Vẫn biết tính hiếu kỳ nhìn qua lỗ khóa của không ít người đọc báo, nhưng nhan nhản những vụ scandal xuất hiện trên báo lấn át những vấn đề nóng của xã hội cũng là tội ác.

Hình như người ta muốn lấy cái phụ để thay cho cái chính. Nhưng cứ làm mãi như thế, sẽ khiến cho người ta lầm tưởng cái chính là cái phụ, cũng là bóp méo sự thật, là đánh lạc hướng sự quan tâm của bạn đọc.

Mấy dịp ra nước ngoài, tôi đều thấy người Việt có vẻ chán ngán xã hội trong nước cũng chỉ vì đọc báo. Những bài báo trộm cắp, chém giết, loạn luân, tham nhũng, băng nhóm ma-phia luôn được đọc nhiều nhất, và người ta không còn biết cái gì khác đang diễn ra trên chính quê hương mình.

Ngay cả 2 cuộc biểu tình của nhân dân gần đây phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam một cách ngang ngược lại được hãng thông tấn lớn nhất của ta vo lại thành “cuộc tụ tập của một nhóm người” thì than ôi, hỏi còn ai tin được cái hãng ấy nữa không? Làm báo như vậy là coi thường người đọc trong thời đại truyền thông mạng đang phát triển tới đỉnh điểm như hiện nay. Những hình ảnh từ hiện thực được tung lên mạng ngay tức khắc với hàng trăm, hàng nghìn người mang khẩu hiệu, băng rôn đi biểu tình là câu trả lời đanh thép cho những nhà báo nào dám bóp méo vo tròn Sự Thật. Và câu nói của Ngô Bảo Châu lúc này càng trở nên chân lý khi ai đó muốn bưng bít thông tin kiểu ấy: “Không thể bảo vệ chế độ bằng sự sợ hãi” và dối trá.

Làm như vậy, họ có muốn kế thừa truyền thống của báo chí Việt Nam hay không?

Nhưng truyền thống đó là gì?

Theo quan niệm của nhà báo Vũ Bằng thì: “Làm báo là làm một cái gì nghiêm trang cao quý, có tính năng tranh đấu và xây dựng, mà người làm báo phải tha thiết với tự do, dân tộc, kinh qua những nghịch cảnh, thăng trầm để chống lại độc tài, độc đoán dưới mọi hình thức quan lại, phong kiến hay dân chủ giả tạo” (BMNNL).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một cuộc nói chuyện với trường Đại học Nhân dân 1956, chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do.

Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ Quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý” – (HCMTT).

Nhà báo phải phục tùng chân lý, và không chỉ nhà báo – đó là điều hiển nhiên. Vậy mà hàng ngày, chân lý vẫn bị bóp méo. Nhưng đôi khi, nhà báo cũng bị lừa. Đi lừa và bị lừa là một cặp nhân-quả, còn biết trách chi ai?

Vậy nên, thời nay người ta đổ xô vào Internet để tìm thông tin nhiều chiều. Sự kiểm chứng của người đọc về thông tin khiến họ ngả vào những thông tin chiếm nhiều Sự Thật, và hơn nữa, là được thưởng thức loại báo chí “đa giọng điệu” chứ không đơn điệu đơn phương như báo chí một chiều. Thực tế đang hình thành lực lượng “nhà báo – blogger”, một lực lượng tự phát có thể làm thay đổi sự già nua của báo chí quan phương. Họ muốn xây dựng niềm tin mới vào báo chí tự do, cũng là một cách cảnh báo cho loại báo chí được bảo kê. Sự giảm sút tiara phát hành của báo giấy gần đây, một phần cũng do sự phát triển mạnh của báo mạng. Nhưng lực lượng “nhà báo – blogger” không kiếm được tiền, đấy chỉ là những người tự nguyện “nói thật – không tiền”, thậm chí “nói thật ăn đòn” nhưng họ vẫn quyết không từ bỏ Sự Thật – Chân Lý.

Vâng, “làm báo nói láo ăn tiền” và “làm báo nói thật ăn đòn” nghe thật chua xót, nhưng đó lại cũng là một sự thật song hành đang hiện diện.

Ngày nhà báo, thay cho lẵng hoa chúc mừng bằng một lời nói thật. Bạn có vui không?
------------------------------------------------
Nhà cụ DANG SINH cũng treo bài này .

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Hoa Kỳ: Chỉ còn sáu tuần để cứu vãn TPP?

  • BBC - 17 tháng 6 2015


Ông Obama và Chủ tịch Hạ Viện John Boehner cũng được cho là đang cân nhắc một số sự lựa chọ khác để thông qua TAA để giúp Tổng thống đàm phán TPP.

Hạ viện Hoa Kỳ quyết định trì hoãn việc bỏ phiếu lại cho một dự luật vốn đang là rào cản cho thủ tục đàm phán TPP.
Tin cho hay việc bỏ phiếu cho “Dự luật Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại” (TAA) được Hạ viện biểu quyết thống nhất dời lại đến hạn chót là ngày 30 tháng Bảy để Nhà Trắng và hai đảng thương lượng.
"Tuy nhiên theo lời ông Chủ tịch Hạ viện John Boehner thì không nhất thiết phải đợi đến 30/7 mà từ đây đến đó, nếu thời điểm thích hợp thì họ sẽ mang ra bỏ phiếu lại," luật sư Vũ Đức Khanh, người theo dõi sát diễn biến này nói với BBC.
“236 phiếu thuận để gia hạn thêm sáu tuần nữa là một dấu hiệu cho biết TAA sẽ được thông qua với số phiếu gần như thế!,’’ Luật sư Khanh từ Canada nói thêm.
Giới lãnh đạo phe Cộng hòa ở Hạ Viện Mỹ quyết định trì hoãn bỏ phiếu lại cho TAA để có thêm thời gian thuyết phục phe Dân chủ.
Người ta cho rằng Tổng thống Obama và Chủ tịch Hạ viện John Boehner đang cân nhắc một số lựa chọn khác để thông qua TAA nhằm giúp Tổng thống Hoa Kỳ đàm phán TPP.
Vào tuần trước “Dự luật Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại” (TAA), bị bác ở Hạ viện với 302 phiếu chống, 126 phiếu thuận.
Việc TAA bị bác dẫn tới hệ quả là “Quyền đàm phán nhanh” (TPA) không được chuyển đến Tổng thống Obama để ký ban hành.
“Có nhiều khả năng là TPA chết yểu vì nhiều Nghị sĩ Cộng Hoà không muốn nhượng bộ TAA nhưng tôi tin rằng khả năng này khó thành.
“Có điều dường như phe Dân chủ thì lại muốn giết TPA tức là giết chết TPP. Họ không muốn đối diện với các nhóm công đoàn trong kỳ bầu cử 2016.
“Tôi nghĩ cuối cùng thì Cộng Hoà và Nhà Trắng cũng sẽ cố gắng tìm cách thông qua.
"Từ đây đến cuối tháng Bảy Chính phủ Obama vẫn tiếp tục đàm phán tuy ở một thế yếu nhưng họ vẫn đạt được mục đích vì họ viện lý do rằng nếu như một sự thỏa thuận bất lợi thì chắc chắn Hạ viện sẽ không thông qua.
“Mặt khác trong sáu tuần này Nhà Trắng và Hạ viện thương lượng về những gì gọi là nguyên tắc đàm phán để đạt được TPP làm khung để Nhà Trắng kết thúc đàm phán với các đối tác TPP,” Luật sư Khanh nói với BBC hôm 17/06.
Trong bài viết mới đây gửi BBC với tựa 'TAA, tương lai TPP và Việt Nam', Luật sư Khanh mô tả điều ông gọi là "Trong trường hợp TAA không được thông qua như dự kiến và TPA chết yểu thì số phận TPP và Hà Nội sẽ tiếp tục lơ lửng đến 2018.
''Như vậy dù chính phủ Obama vẫn tiếp tục đàm phán cho đến hết nhiệm kỳ nhưng chắc chắn khó mà có đột phá và những gì đạt được trong suốt thời gian qua cho chiến lược “chuyển trục” coi như là không có gì!," Luật sư Khanh nhận định.

TAA, tương lai TPP và Việt Nam

 

TT Obama đã tới vận động cho TAA nhưng bất thành !
Sau khi Hạ viện Hoa Kỳ hôm thứ Sáu 12/6 bỏ phiếu về hai dự luật “Quyền đàm phán nhanh” (TPA) và “Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại” (TAA) thì lập tức một loạt các cơ quan truyền thông đã vội đưa tin rằng TPA, dự luật cho phép Tổng thống Obama xúc tiến đàm phán nhanh các thỏa thuận thương mại quan trọng, trong đó có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), đã không được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua.
Thực ra thì TPA (Trade Promotion Authority) đã được thông qua với số phiếu 219 thuận và 211 chống. Tuy nhiên vì TPA đi kèm với một dự luật khác mang tên “Dự luật Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại” (TAA), đã bị bác trước đó với 302 phiếu chống, 126 phiếu thuận cho nên TPA không được chuyển đến Tổng thống Obama để ký ban hành.
Thủ tục, trình tự lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ tương đối khá phức tạp và trong khuôn khổ của bài này tôi không có ý định bàn sâu nên tôi chỉ tóm lược như sau: TPA và TAA đã được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua cả hai như một dự luật chung hôm 22/5.
Cho nên Hạ viện buộc phải thông qua cả hai TPA và TAA để tránh sự bất cập với bản dự luật thông qua của Thượng viện. Nếu có bất cập thì dự luật buộc phải trả về Thượng viện để bỏ phiếu lại.
Theo tin từ Hạ viện thì TAA (Trade Adjustment Assistance) sẽ được mang ra bỏ phiếu lại vào thứ Ba 16/6 và hy vọng lần này sẽ được thông qua. Chắc chắn là Tổng thống Obama sẽ phải có một số nhượng bộ gì đó với cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa.
Và tôi tin rằng như thế vì trước đây TPA cũng đã gặp trường hợp tương tự ở Thượng viện.

Bảo vệ công nhân Mỹ

TPA như đã trình bày, dự luật này cho phép chính phủ Mỹ được quyền đàm phán trọn gói các hiệp định thương mại quốc tế thí dụ như TPP trước khi đệ trình Quốc hội thông qua, thay vì phải chịu sự giám sát của Quốc hội trong tiến trình đàm phán.
Trong khi đó thì TAA là một dự luật riêng cho chương trình hỗ trợ cho các lao động Mỹ bị mất việc làm vì các hiệp định thương mại quốc tế. Dự luật này đã có từ hơn 40 năm nay nhưng sẽ hết hạn vào cuối năm nay nên đảng Dân chủ đã yêu cầu gia hạn đến năm 2022 và lại được đính kèm với TPA nên mới có sự cố éo le này.



TAA được cho là để bảo vệ lao động Hoa Kỳ

TAA luôn là một dự luật theo truyền thống được phe Dân chủ ủng hộ. Tuy nhiên vì được dính với TPA nên đảng Dân chủ muốn làm yêu sách với chính phủ để được thêm quyền lợi. Trong khi đó thì các nghị sĩ Cộng hòa, vốn chống đối TAA buộc phải rơi vào thế đồng minh bất đắc dĩ của Tổng thống Obama vì họ ủng hộ tự do thương mại, khi bị yêu cầu bỏ phiếu thông qua TAA. Tôi nghĩ đảng Cộng hoà sẽ cố hết sức để thông qua TAA vào thứ Ba 16/6 tới vì họ không muốn chuyện này kéo dài nhất là năm 2016 là năm bầu cử Quốc hội và Tổng thống Hoa Kỳ, năm mà họ phải đối diện với cử tri mà không phải cử tri nào cũng hiểu được giá trị lá phiếu của họ ảnh hưởng như thế nào đối với những chính sách tầm quốc tế của Mỹ.
Theo lịch trình Quốc hội thì Hạ viện Hoa Kỳ sẽ nhóm họp đến hết ngày 26/6, sau đó nghỉ lễ Quốc khánh 4/7 và sẽ nhóm họp lại đến cuối tháng 7 rồi nghỉ hè đến giữa tháng 9.
Nếu Hạ viện không thông qua được TAA vào tháng 6 này thì coi như cơ hội kết thúc đàm phán TPP cũng kết thúc!

Chậm trễ tới 2018

Từ đây đến cuối năm sẽ không còn đủ thời gian để đàm phán một Hiệp định thương mại tầm quốc tế mà sau đó còn phải tùy thuộc vào lá phiếu của các ông bà Nghị sỹ Mỹ nhất là năm 2016 lại là năm bầu cử.
Điều đó có nghĩa rằng sẽ không có gì khởi động lại đàm phán trước năm 2018 vì sau kỳ bầu cử tháng 11/2016, còn phải chờ tân Tổng thống nhậm chức và nội các mới chấp chính, rồi Thượng viện chuẩn thuận tân Bộ trưởng Thương mại chịu trách nhiệm đàm phán TPP. Đó là chưa nói vị tân Tổng thống Mỹ có còn mặn mà với một chính sách mà được coi như là di sản của vị tiền nhiệm, Tổng thống Obama.
Cuối tuần qua đã có những cuộc thương thuyết liên tục giữa Tòa Bạch Ốc và một số Nghị sỹ có ảnh hưởng của cả hai đảng nhưng vì cách tổ chức Quốc hội Mỹ khá đặc biệt nên hy vọng cũng khá mong manh. Các Nghị sỹ Mỹ trên nguyên tắc không bị bắt buộc bỏ phiếu cho đảng của mình mà có quyền tự do bỏ phiếu theo quyền lợi của địa phương dân cử mình. Nên việc những lãnh đạo đảng kêu gọi bỏ phiếu ủng hộ một dự luật nào đó cũng mang tính tương đối.


Dự luật TAA thật ra tới giờ chỉ ảnh hưởng tới một thiểu số rất nhỏ người dân Mỹ và như Tổng thống Obama đã từng tuyên bố rằng TPP mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế và việc làm cho người dân Mỹ, nhất là dự luật này với mục đích là hỗ trợ tài chính cho những người Mỹ mất việc có cơ hội tìm lại được việc làm mới thì việc chống lại nó là một điều phi lý.
Nếu để đảng Cộng hòa dùng lá bài này thì đảng Dân chủ gần như sẽ bị thua đậm trong kỳ bỏ phiếu 2016 sắp tới.
Đúng là sẽ có một số người Mỹ không thích việc trao quyền quá nhiều cho Tổng thống nhưng khi đảng Dân chủ không chặn được TPA mà còn chặn TAA tức là đạp đổ chén cơm của người dân Mỹ thì quả là lợi bất cập hại cho các Nghị sỹ Dân chủ, cho dù bà Nancy Pelosi, một lãnh đạo thiểu số Dân chủ tại Hạ viện, có giải thích rằng việc bà ấy bỏ phiếu chống TAA là muốn làm chậm lại cái “Quyền đàm phán nhanh” của Tổng thống.
Lập luận này khó lòng mà người Mỹ chấp nhận được.

TAA ảnh hưởng gì đến Việt Nam?

Nếu TAA được thông qua vào thứ Ba 16/6 thì từ đây đến cuối tháng 9 sẽ có nhiều khả năng kết thúc đàm phán và Quốc hội Hoa Kỳ sẽ thông qua thành luật vào mùa Thu năm nay, như thế TPP sẽ không nằm trong nghị trình của các cuộc bầu cử ở Mỹ vào tháng 11/2016.
Về nguyên tắc, coi như Hoa Kỳ đã hoàn tất các mục tiêu chiến lược đối ngoại ở Châu Á – Thái Bình Dương và chỉ tiếp tục triển khai “chiến lược chuyển trục” như kế hoạch.
Bất kể Tổng thống nào là chủ nhân Tòa Bạch Ốc năm 2017, mọi việc vẫn có thể tiếp tục bình thường trước năm 2019 vì ít nhất tân chính phủ cũng phải cần từ một đến hai năm để lập và điều hành một chính sách mới.


Tuy nhiên đã có từ lâu một sự thỏa thuận ngầm của lưỡng đảng về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, đó là sức mạnh Hoa Kỳ cần liên tục được biểu dương trên chính trường quốc tế, đặc biệt khi có một quốc gia nào đó có ý định đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Châu Á – TBD.
TPP là một trong tứ điểm trụ cột của chính sách Mỹ tại khu vực. Và cũng cần nhắc lại rằng ngoài TPP thì Mỹ cũng đang thương lượng với các đồng minh ở Châu Âu một Hiệp định tương tự có tên là “Transatlantic Trade and Investment Partnership” (TTIP). Sự thỏa thuận ngầm của lưỡng đảng về chính sách ngoại giao là một luật bất thành văn ở Hoa Thịnh Đốn.
Những tin tức riêng từ Hoa Thịnh Đốn mà tôi có từ hai ngày qua cho tôi nhận xét rằng chính sách của Mỹ tương đối khá rõ ràng đối với Hà Nội là bằng mọi giá phải vô hiệu hóa Hà Nội, không để Hà Nội là quân bài của Bắc Kinh khuấy động Biển Đông.
Bắc Kinh không thể dùng Hà Nội làm bàn đạp kiểm soát Đông Nam Á. Chính phủ Mỹ tiếp tục dùng chính sách tiếp cận tiệm tiến để một mặt cầm chân Hà Nội trước sự ve vãn của Bắc Kinh, mặt khác tạo dựng lực lượng trong nước đủ năng lực cho một chuyển tiếp chế độ khi điều kiện chín muồi.
Những điều khoản ràng buộc về lao động và tự do nghiệp đoàn của TPP là những mũi xung kích khi cần thiết.

Ảnh hưởng tới lãnh đạo Việt Nam ?

Về quyền lợi kinh tế thì Mỹ dùng quyền lợi TPP ảnh hưởng tầng lớp lãnh đạo cộng sản Việt Nam, cột chặt họ với những quyền lợi của tư bản Hoa Kỳ, biến “tư bản đỏ thành tư bản xanh” vì bản chất thì tư bản vẫn là tư bản.
Với sách lược này, Mỹ sẽ đặc cách triển hạn cho Việt Nam một khoảng thời gian có thể là từ 3 đến 5 năm để thực hiện các điều khoản này như trong trường hợp WTO. Đồng thời hai bên vẫn tiếp tục câu chuyện dài nhiều tập về “đối thoại nhân quyền”.


Cho nên trong thực tế thì chuyến đi của ông TBT Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Thịnh Đốn vào thời điểm này không có gì mang tính chiến lược, mà chỉ là một màn trình diễn.
Sẽ không có bước đột phá gì lớn về chính trị, ngoại giao, ngoại trừ một số hợp đồng kinh tế, thương mại, quân sự khổng lồ trên 10 tỷ USD với một số tập đoàn đa quốc gia Hoa Kỳ như Boeing, Lockheed Martin.
Ông Trọng sẽ được giới thiệu với người Mỹ như một người cộng sản Việt Nam không những biết cầm súng mà còn biết làm thương mại và Việt Nam tương lai sẽ là một đối tác thương mại không kém quan trọng của Hoa Kỳ trong khuôn khổ TPP. Và mọi người ở Hoa Thịnh Đốn hay ít nhất chính phủ Obama sẽ hy vọng Hà Nội sẽ chuyển trục, xích lại gần hơn Mỹ trên Biển Đông.
Trong trường hợp TAA không được thông qua như dự kiến và TPA chết yểu thì số phận TPP và Hà Nội sẽ tiếp tục lơ lửng đến 2018.
Như vậy dù chính phủ Obama vẫn tiếp tục đàm phán cho đến hết nhiệm kỳ nhưng chắc chắn khó mà có đột phá và những gì đạt được trong suốt thời gian qua cho chiến lược “chuyển trục” coi như là không có gì!
Dĩ nhiên, kẻ hưởng lợi nhiều nhất trong trường hợp này là Bắc Kinh và phe cánh thân Trung Quốc ở Hà Nội.
---------------------------------------------------------
Cảm ơn NNH đã gửi thông tin này
Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một luật sư sinh sống và làm việc ở Canada.
Nguồn :Tại đây 

Mạn đàm với ông Vũ Ngọc Hoàng

 TS. Tô văn Trường

Khi mới được đọc bài viết gần đây của ông tiêu đề: ”Lợi ích nhóm” và “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” – cảnh báo nguy cơ” đang trên Tạp chí cộng sản, tôi thấy cần phải trao đổi lại với tác giả xung quanh nội dung bài viết nói trên.
Xin nói rõ hơn trong bối cảnh “đãi cát tìm vàng” hiện nay, người lãnh đạo đương chức dám viết và dám nói thẳng những suy nghĩ của mình trên báo “lề phải” như ông Vũ Ngọc Hoàng vẫn là của hiếm, rất đáng trân trọng cho nên mục đích bài viết này không phải là “mổ xẻ” phê phán mà là góp ý, mạn đàm với ông Vũ Ngọc Hoàng cho rõ hơn những vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm.
Nhắc đến ông Vũ Ngọc Hoàng, tôi lại nhớ đến ông Nguyễn Sự, Bí thư Hội An (thuộc tỉnh Quảng Nam) vừa mới chủ động cáo quan về hưu sớm trước 2 năm, được người dân quý trọng gọi là ông quan tử tế. Quả thật, ít lâu nay mỗi khi mở ti vi mà thấy mục “việc tử tế” là tự nhiên tôi thấy khó thở. Bởi lẽ, việc tử tế (tiếng Nam là “đàng hoàng”) – hàm cái nghĩa là lẽ đương nhiên trong lẽ đời, sự sống như hơi thở, nhịp tim vv… mà bây giờ người ta phải gom nhặt từng mẩu để đưa ra tấm tắc như là những nghĩa cử của các hiền nhân, quân tử. Điều đó, nghĩa là những lẽ phải thông thường xưa nay đang ngày càng trở nên hiếm hoi đồng nghĩa là cái xấu đang trở thành mặc nhiên, mặc định trong xã hội ta.
Tôi cũng là người làm công tác khoa học và thường xuyên viết báo (bạn hữu gọi là nhà báo công dân) nên thấu hiểu rằng viết báo dùng những từ ngữ kiểu chính luận thì dễ đường vòng vo – còn dùng cách nói dân gian thì thường có vẻ uỵch toẹt, ít uyên bác (ít “chất xám” nhưng nhiều chất thật), ở góc độ chân lý thì chẳng hề sai.
Bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng đã thẳng thắn thừa nhận thực trạng tình hình thiếu kiểm soát của xã hội ta hiện nay, thấy được nguy cơ đáng sợ của nhóm lợi ích, đe doạ sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và sự phát triển của Dân tộc. Đồng thời, tác giả thấy đươc sự mong manh của thể chế chính trị “Định hướng XHCN…”.
Điều đáng tiếc nhất, không hiểu vì lý do nào đó, ông Vũ Ngọc Hoàng không lý giải được nguyên nhân cội nguồn dẫn đến tình trạng xã hội hiện nay (chế độ toàn trị), lại đổ vấy cho một thứ gọi là “Chủ nghĩa tư bản thân hữu”, một khái niệm rất mơ hồ. Tác giả cũng không đưa ra được giải pháp khắc phục và thể hiện sự bế tắc trong cách giải quyết, v.v…
Tôi nghĩ mãi chưa nhớ ra được ai, ở đâu đã đưa ra khái niệm “Chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Tôi cũng không biết cụ Lenin dùng chữ gì để chỉ “chủ nghĩa tư bản thân hữu” trong tiếng Nga?.
Ngẫm suy, chắc chắn chữ “thân hữu” không phải là đối nghịch với “thân tả” mà có nghĩa là thân thiện, thân tình (quan hệ thân thiết giữa giới có quyền & giới có tiền cấu kết với nhau để cùng trục lợi chia chác). Nếu được minh bạch, công khai, được pháp luật thừa nhận thì mối quan hệ này sẽ được xã hội giám sát, không phải bao giờ cũng có ý nghĩa tiêu cực. Chỉ ở những thể chế mất dân chủ, không minh bạch công khai thì “lợi ích nhóm” mới có hiệu quả rất tệ hại đối với đất nước.
Theo tôi hiểu, cứ cho là có “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì nó là một thuộc tính, không nên chia tách ra thành một thực thể. Nếu quan tâm đề cập “Lợi ích nhóm” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì chỉ là hệ quả của thể chế chính trị – kinh tế hiện nay. Vì vậy, phải đặt trong bối cảnh chung ấy mới thấy được thực chất vấn đề đáng nêu và từ đó tìm được giải pháp loại trừ nó.
Cần hiểu đúng khái niệm về lợi ích nhóm
Trong bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng đề cập chuyện Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra tên gọi “Lợi ích nhóm” ở Hội nghị TƯ 3, tôi nghĩ không có gì mới. Chúng ta có thể xem định nghĩa về nhóm lợi ích theo đường link ở đây: http://www.britannica.com/topic/interest-group. Nói một cách đơn giản, chúng là nhóm có tổ chức đăng ký, hoặc không, để nhằm gây ảnh hưởng chính trị hay dư luận bảo vệ quyền lợi của nhóm.
Ngay ở nước phát triển như Mỹ, nếu là có tổ chức, họ có thể đăng ký dưới danh nghĩa các tổ chức vô vị lợi, thu tiền đóng góp (những người đóng góp còn được trừ thuế đối với tiền đóng góp). Các tổ chức vô vị lợi không được quyền kêu gọi ủng hộ một cá nhân hay một đảng phái nào ra ứng cử. Họ chỉ được phép tạo dư luận để ủng hộ quyền lợi của nhóm. Thí dụ nhóm lợi ích có thể là nông dân cần được hỗ trợ về vay vốn, được trả tiền giảm đưa đất đai vào sản xuất, giảm sản lượng, nhằm giữ giá tối thiểu. Có thể là tổ chức các đại học, là công đoàn, là hội lực lượng cảnh sát, hội cựu chiến binh v.v…
Nếu không có danh nghĩa tổ chức vô vị lợi thì họ tha hồ tự do ủng hộ các chính trị gia, ứng cử viên. Nếu là nhằm ủng hộ quan điểm của một quốc gia khác họ phải đăng ký là agent của nước ngoài. Điển hình là trường hợp của Henry Kissinger, Cựu chủ tịch Hội đồng Cố vấn An Ninh Quốc gia thời Tổng thống Nixon, vận động hoặc làm tham mưu cho ý kiến cho Trung Quốc. Nhìn chung, các nhóm lợi ích ở Mỹ là minh bạch.
Vấn đề của Việt Nam thì minh bạch là mọi tổ chức đều là do Đảng dựng lên, có thể cho ý kiến, nhưng chủ yếu có nhiệm vụ vận động để mọi người ủng hộ đường lối của Đảng và phải hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đảng. Có thể gọi mọi tổ chức được công nhận ở Việt Nam đều là các nhóm lợi ích vì lợi ích của Đảng.
Tuy nhiên hiện nay, Đảng chỉ có một lợi ích duy nhất là duy trì sự lãnh đạo và tồn tại của Đảng, trong khi đó nền kinh tế thì tư bản chủ nghĩa, tức là mọi lợi ích là nhằm phục vụ cá nhân. Ở đây, nhóm lợi ích ra đời, có ý nghĩa khác hẳn nhóm lợi ích ở các nước phát triển. Họ vây quanh các lãnh đạo Đảng để có thể hưởng các ân huệ như việc được cấp quyền sử dụng đất, quyền khai thác, được cấp tín dụng v.v… tức là làm sao biến được công hữu thành tư hữu một cách hợp pháp. Tất cả mọi cái được này đều không minh bạch vì họ chẳng phải đăng ký với ai. (khác hẳn với thể chế ở các nước phát triển như Mỹ)
Theo tôi hiểu, tư bản thân hữu là từ dùng trong các nước tư bản kiểu Indonesia, Thái Lan, Mã Lai, theo nghĩa có quan hệ với gia đình lãnh đạo (như Suharto chẳng hạn), có nghĩa là “cánh hẩu” với nhau. Nhưng ở nước Xã hội chủ nghĩa kiểu như Việt Nam thì diện công hữu rất rộng, có thể nói là có tính toàn diện chứ không như ở Indonesia, hay Mã Lai cho nên quyền biến công hữu thành tư hữu của nhóm lãnh đạo Đảng ở Việt Nam cũng rộng hơn nhiều vì có quyền quản lý toàn bộ các công ty quốc doanh, đất đai và tài nguyên nói chung. Các vị lãnh đạo ở tỉnh cũng có quyền rất lớn vì họ có quyền đối với đất đai nằm trong địa phận của tỉnh.
Tôi tin rằng ông Vũ Ngọc Hoàng cũng thấu hiểu những điều phân tích nói trên nhưng vì lý do “tế nhị” nào đó, không tiện viết thẳng ra mà thôi.
Các khuyết tật mang tính hệ thống ở ta hiện nay
Có ý kiến đặt vấn đề tại sao người Việt Nam ta thích “Ra đường gặp đóa hoa rơi/ Hai tay nâng nhẹ cũ người mới ta”. Những tư tưởng, học thuyết tiến bộ một thời cách đây hàng ngàn năm (khi loài người còn mông muội) hoặc hàng trăm năm, thậm chí chưa xa, mà nay không còn phù hợp, người ta đưa vào bảo tàng hoặc chỉ còn trong giáo trình “lịch sử triết” nhưng lại được suy tôn ở Việt Nam.
Ngược lại, mô hình phát triển của nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã được thực tế chứng minh nhưng vẫn chưa lọt vào “mắt xanh” của những người có thẩm quyền ở nước ta.
Nhìn vào thực trạng xã hội, người dân nhận thấy sai lầm về định hướng phát triển xã hội (xây dựng thể chế), nói rõ hơn, là “mô hình” xã hội trên nền tảng cơ chế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta theo đuổi còn rất mơ hồ, thiếu lý luận khoa học, không thấy đâu là nhân tố cốt lõi, đâu là động lực phát triển, mâu thuẫn nào là đối kháng, phương thức giải quyết các vấn đề xã hội ra sao, và tính tất yếu của các quá trình là gì?
Sai lầm về cơ cấu tổ chức xã hội, đặc biệt là cơ cấu tổ chức của các cơ quan quyền lưc Nhà nước. Mô hình “3 trong 1”, tức là các cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp như ở ta hiện nay về thực chất chỉ là một tổ chức đặc quyền “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Nói cho khách quan, mô hình này đã phát huy tốt trong giai đoạn đất nước bị chia cắt, độc lập dân tộc bị de dọa, nhưng đã quá lỗi thời ở nền kinh tế thị trường mà ta đang theo đuổi. Và đây là “lỗ hổng” chết người, một “ mảnh đất mầu mỡ” để các “nhóm lợi ích” hình thành, phát triển, cạnh tranh, thậm chí liên kết cùng nhau vì quyền lợi ích kỷ của họ.
Sự hình thành nhóm lợi ích là quá trình tự nhiên như hạt giống tự nẩy mầm trong đất ẩm, đúng theo quy luật của cơ chế thị trường lấy lợi ích cá nhân là mục tiêu phấn đấu, theo bản năng vốn có của tạo hóa.
Sai lầm tiếp theo là sự bảo thủ của nhiều vị lãnh đạo, chậm về nhận thức, thiếu năng lực hành động, sợ mất quyền và tự mình đánh mất tính tiên phong, dẫn đến mất niềm tin của quần chúng. Cuối cùng là sợ luôn cả dân chủ dẫn đến độc quyền về nhân sự, và độc quyền về đường lối chủ thuyết phát triển đất nước. Xin đừng quên rằng dân chủ là thứ mà bất kỳ một xã hội văn minh nào cũng đều cần và rất cần.
Với quan niệm tù mù về sở hữu toàn dân, quyền sở hữu tư nhân bị chèn ép, lép vế trên thực tế, khiến kinh tế thị trường lành mạnh bị bóp nghẹt. Ở nông thôn, đất đai cũng do Nhà nước làm chủ, đại diện là những vị chức sắc mà trong nhiệm kỳ của họ, việc thu hồi đất đai, ruộng vườn, ao truông, mọi thành quả lao động của người nông dân, nằm trong quyền hạn của họ. Hậu quả tất yếu là những hiện tượng như vụ Đoàn Văn Vươn và những đoàn người dân đi từ nhiều địa phương trong cả nước tới các cơ quan công quyền bầy tỏ sự uất ức của họ khi bị mất trắng thành quả lao động vào tay các quan cai trị mới ở địa phương, để các vị này lại bán đi cho các đại gia đã móc ngoặc, biến thành các nơi vui chơi giải trí, các resort với giá đắt nhiều lần hơn, mà người lao động trung bình không thể nghĩ tới.
Chính là trên cái nền tổng hợp của các khuyết tật ấy mà “lợi ích nhóm” hay nói đúng hơn là các nhóm trục lợi đã và đang tồn tại, phát triển và không thể nào ngăn chặn được (y như đã và đang không thể ngăn chặn được nạn tham nhũng, quan liêu).
Giải pháp
Đã tới lúc chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Tại sao Nhật Bản, Hàn Quốc, chưa nói tới một số nước công nghiệp đã phát triển mạnh như Đức, Anh, Pháp… lại bứt phá nhanh như vậy? Chắc chắn vì họ đã kịp có một cơ chế quản lý xã hội được học từ các nước tiên tiến, và đã biết rút ra được nhiều kinh nghiệm từ sự thất bại của mình, và mạnh dạn khắc phục những yếu kém đó.
Trước khi bàn về giải pháp ở tầm chiến lược, cũng giống như trước cuộc đại phẫu cắt bỏ một khối u ác tính trong cơ thể, đang de dọa tính mạng của người bệnh, chúng ta cần hội chuẩn cho thật kỹ, tìm ra giải pháp tối ưu và triển khai thực hiện, đồng bộ với một lộ trình khoa học, khả thi càng sớm càng tốt.
Điều kiện cần cho các giải pháp là rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất là giữ được ổn định xã hội, đoàn kết dân tộc, giữ vững nhịp độ phát triển kinh tế, tạo sự ủng hộ của quần chúng nhân dân và của cộng đồng quốc tế.
Dưới đây là một số đề xuất về giải pháp để chúng ta cùng bàn:
Một là, Đảng phải tự đổi mới về nhận thức, khôi phuc lòng tin của nhân dân, đấu tranh phê bình và tự phê bình nghiêm túc, thực hiên dân chủ hóa các hoạt động trong và ngoài Đảng. Loại ra khỏi Đảng những phần tử biến chất, tham nhũng, bè phái (nhóm lợi ích)….
Hai là, từng bước cải cách hệ thống tổ chức xã hội từ trung ương đến địa phương trên cơ sở “tam quyền phân lập”, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.
Ba là, Dân chủ hóa hệ thống bầu cử, lựa chọn người tài tham gia việc nước; taọ cơ chế hoạt động thuận lợi, bình đẳng giữa các tổ chức xã hội, chính trị, kinh tế trên nền tảng hệ thống pháp quyền minh bạch.
Bốn là, tôn trọng các quyền cơ bản của người dân, tạo điều kiện pháp lý phù hợp với văn hóa của ta để người dân tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, kinh tế, phát huy năng lực của toàn xã hội.
Năm là, duy trì sự lãnh đạo của Đảng bằng trí tuệ của Đảng, với thuộc tính: khoa học, dân chủ, công bằng vì lợi ích của toàn xã hội và dân tộc.
Lời kết
Đất nước chỉ có thể chấn hưng khi khoa học công nghệ phát triển và dân trí được nâng cao. Cần nhìn thẳng vào sự thật, lĩnh hội các giá trị phổ quát của toàn nhân loại, con đường đi chung, phong quang của cả thế giới văn minh. Dân chủ hóa, minh bạch hóa xã hội đòi hỏi phải bắt đầu từ cấp cao nhất của Đảng.
T.V.T
Tác giả gửi BVN

KHÔNG THỂ KHÔNG LÊN TIẾNG !

Xin được phép hỏi các cụ Làng ta :
Những hình ảnh và những comments với lời lẽ hằn học, thậm chí hỗn xược , tục tĩu vô học - của một kẻ giấu mặt nào đó lén thả vào "Nhà" ta, thì ta có nên nhặt nó và bỏ khẩn trương vào thùng rác hay không ?

 ( Hình ảnh này phản cảm đã bị chúng tôi chủ động xóa theo đề nghị của cụ Nhật Lệ )
 
Tất nhiên tôi hiểu, mạng xã hội tôn trọng tự do của mọi người . Không ai có quyền ngăn cản chúng ta bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, chính kiến . Nhưng không thể lợi dụng cái quyền tự do này mà trút căm hờn lên người này người kia ( khi không có bằng chứng xác thực), thậm chí hằn học xuyên tạc, bôi nhọ, hỗn hào với 1 người khả kính, đáng bậc ông cha mình ! Hồi còn học Đại học (HN 1963) chúng tôi có nghe câu chuyện Bác Hồ nhắc nhở một tác giả bài viết đăng báo, gọi Ngô Đình  Diệm là "thằng". Cụ Hồ bảo : người ta đáng tuổi cha chú mình phải xưng hô sao cho phải đạo. Ông Ngô Đình Diệm cũng là người yêu nước, nhưng ông có cách yêu nước riêng của ông ! Không hiều câu chuyện thực/hư bao nhiêu %, nhưng chắc chắn đó là bản chất đạo đức, là nhân cách Hồ Chí Minh ! . Xin nhắc lại, đây cũng chỉ là suy nghĩ của riêng tôi. Còn các cụ, có thể không giống tôi ? Nhưng, là người "gác Đình dọn Chùa " cho Làng ta, tôi đã và sẽ kiên quyết vứt những đồ rác rưởi như thế này vào sọt rác ! ( Calathau Vu - Mõ Làng )

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Một bài viết"lạ" trên TCCS

“Lợi ích nhóm” và “Chủ nghĩa 
tư bản thân hữu” - cảnh báo nguy cơ
  TS. Vũ Ngọc Hoàng

Vũ Ngọc Hoàng, UVTWĐ, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo TW

TCCS 14:56' 2/6/2015

 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”. Bởi vì, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) sẽ làm cho sự phát triển của đất nước và lợi ích quốc gia, dân tộc suy yếu và tổn thất nghiêm trọng; nhân dân bị tước đoạt quyền lực và lợi ích; thành quả cách mạng và chế độ chính trị - xã hội không được bảo vệ, dẫn đến đổ vỡ.


Lợi ích chính đáng (của một người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, mà trước sau gì nhất định cũng sẽ thất bại.

Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”. Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực và tham vọng tiền bạc.
Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI). Sau Tổng Bí thư, một vài đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nói chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích nhóm”. Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, chưa nhiều và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.
Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng - tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý việc cấp các loại giấy phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong điều hành. Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ, việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất, nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Hầu hết các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” kéo dài nhiều thập niên, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng bùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển là do “lợi ích nhóm” - nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.
Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn thấp (vào loại thấp nhất khu vực Đông Á), hiệu quả đầu tư kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) còn kém; thu nhập thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy thu nhập trung bình thấp”. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì thật đáng lo ngại.
Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, đó là con đường không có tiền đồ và rất nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị “nhóm lợi ích” độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị. Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa (chân chính). “Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực, giết người.
Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Suốt mấy trăm năm nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, chủ nghĩa tư bản buộc phải liên tục điều chỉnh. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những điều chỉnh rất đáng ghi nhận; tạo ra nhiều thành tựu và một số nước đạt trình độ phát triển cao, tính chất xã hội hóa sản xuất cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương lai (xã hội xã hội chủ nghĩa). Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia. Nước nào rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” thực chất là sự bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tư bản hiện đại có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm) và tất nhiên là càng xa lạ với chủ nghĩa xã hội văn minh.
“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” còn có các cách gọi khác nhau, là “chủ nghĩa tư bản lợi ích”, “chủ nghĩa tư bản bè phái”, “chủ nghĩa tư bản bè cánh”, “chủ nghĩa tư bản lũng đoạn”,... “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, mà là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị mình. Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Đặc trưng của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có quyền lực cũng tham gia kinh doanh, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị. Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không có hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng... Họ thu lợi thông qua các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) chủ nghĩa tư bản “man rợ”, chủ nghĩa tư bản “dã man”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản văn minh.
Rất đáng lưu ý là, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém). Thực tiễn thế giới cho thấy, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương, đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng ma-phi-a, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để nhân dân làm chủ và có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm. Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của Nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo “chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.
Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang chủ nghĩa tư bản phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với chủ nghĩa xã hội. Khả năng lớn nhất, hiện hữu và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất là chệch hướng sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị - xã hội.
Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu - nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật - giả, đúng - sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống...; làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.
Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn bản chất, không còn là đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của nhân dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam bị sụp đổ, kể cả có lúc đất nước bị chia cắt là do “nhóm lợi ích” gây nên. Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, nhưng qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì mức độ càng nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch. “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Cũng có ý kiến cho rằng nước ta đã rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” rồi, đã vào sâu lắm rồi (?). Ở các nước, việc quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta. Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam còn phức tạp hơn các nước khác, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước và sự tồn vong của chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa (lành mạnh). Nguy cơ này bao trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại. Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường; là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”. Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo hướng xấu, chắc chắn không còn là con đường xã hội chủ nghĩa chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu, hy sinh xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng. Lúc này, hơn lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn đến đổ vỡ.
Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó. Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong Đảng và trên công luận. Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân và công luận); cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và quy định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”./.
 ---------------------------------------------------
TS.Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, từng làm giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, rồi Chủ tịch, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, ông nổi tiếng là người thông minh, tâm huyết, chịu khó nghiên cứu và thẳng thắn ( Nhận xét của 1 Blogger )

Bài viết góp ý với ĐCSVN của GS Tương Lai ( Kỳ cuối )

3.    Trung thực và nghiêm chỉnh thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc.

Quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII cũng là quá trình người ta đang ra sức hô hào việc đẩy mạnh phong trào “Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh”. Biết bao thời gian, công sức và tiền của đã trút vào công việc mà thực chất là một liều thuốc an thần cho một cơ thể đang lâm vào trọng bệnh nhưng lại không dám dùng những liều thuốc đặc trị. Không dám dùng, vì liều thuốc đặc trị ấy lại có tính công phạt đối với cái ghế quyền lực đã rệu rã mà người ta đang cố duy trì, kể cả việc vời đến các thầy Tàu sang chữa trị. Bởi vậy, thay vì nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh, người ta chỉ nói đến “đạo đức” và hô hào “làm theo”! Có lẽ vì người ta muốn chữa căn bệnh tham nhũng đã ăn vào tận “cao hoang” trong cơ thể chế độ XHCN đã được xây dựng gần một ba phần tư thế kỷ nay. Nhưng chỉ dùng thuốc an thần thì chỉ có thể đánh lừa được người nhẹ dạ cả tin, có khi lại làm bệnh càng thêm nặng. Thì chẳng thế sao khi càng chống thì tham nhũng lại càng phát triển, đâu phải chỉ tham vặt để được ví một cách ngô nghê là “khó chịu như ngứa ghẻ”! Chẳng cần thầy lang cao tay bắt mạch bốc thuốc. Bằng mắt thường cũng thấy chính cái cơ chế độc tài toàn trị phản dân chủ là nguồn gốc của tham nhũng. Không xoá bỏ cái cơ chế đó thì chẳng bao giờ trị được tham nhũng, trừ phi cố tình “mượn màu son phấn đánh lừa con đen”, lấy cớ chống tham nhũng để loại bỏ đối thủ chính trị.
Đây là ngón “võ Tàu” quen thuộc mà Tập Cận Bình, hậu duệ xuất sắc của Mao Đặng, đang truyền nghề cho những “đồng chí cùng chung ý thức hệ”. Mà thật ra, hành vi tham nhũng lớn nhất là tham nhũng quyền lực. Chuyện này thì vốn đã “xưa như trái đất”! Quyền gắn với lợi, ghế đi đôi với tiền, quyền lực đẻ ra sở hữu, nguyên lý đó được đúc kết từ lâu. Max Weber, nhà xã hội học bậc thầy sống cùng thời với C.Mác, đã từng phân tích sâu sắc quy luật này trong những luận đề phê phán C.Mác.
Cho nên, chỉ riêng việc đưa ra một khẩu hiệu có ý nghĩa định hướng cho một phong trào được thực hiện rầm rộ trong suốt nhiều năm trời khi mà đất nước đang đối diện với biết bao những thách thức và vận hội đủ nói lên được cái tầm trí tuệ của một định hướng. Chưa nói đến chuyện C.Mác đã từng nói đến lúc nào thì người ta phải cầu viện đến đạo đức khi phê phán sự cổ vũ cho một quan điểm đạo đức đậm mùi tôn giáo của Phơbách, một nhà triết học Đức thế kỷ XIX. Đó là một thứ đạo đức “được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả, cả đối với thế giới hiện thực” và thẳng thắn chỉ ra rằng “đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”!
Dài dòng một chút về điều này vì hình như trong kiểu hô hào đạo đức của khẩu hiệu trên cũng có hơi hướng và bóng dáng của sự “bất lực” vừa nói. Và tiếp đó là sự hô hào làm theo. Trong giáo dục hiện đại người ta đã phê phán việc rèn cho trẻ con quen nếp “làm theo” người lớn mà không biết cái quyết định của việc hình thanh nhân cách là nuôi dưỡng và cổ vũ bản lĩnh tự khẳng định, biết tưởng tượng và sáng tạo. Trẻ con đã thế, vậy mà lại đưa ra một khẩu hiệu, bắt cả dân tộc phải làm theo, chỉ biết làm theo, thì không hiểu dân tộc ấy rồi sẽ thế nào?
Cách đây cả nghìn năm mà ông cha ta đã từng khuyên dạy: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành”. Làm trai phải có chí xông trời thẳm, việc gì cứ phải lẽo đẽo lần theo vết chân của Phật tổ Như Lai. Nên nhớ đây là thơ của một nhà sư, tác giả của bài kệ “Hưu hướng Như Lai” [“Đừng đi theo vết chân Như Lai”]. Xuất gia đi tu, thế mà lại bảo không cần phải dẫm theo đường mòn có sẵn, phải ngộ đạo theo cách của mình. Thật là đã chống giáo điều từ gốc!
Ây vậy mà, chọn một liều thuốc an thần, do cái tầm hạn hẹp của tư duy và sự bất cập của trí tuệ, người ta cổ vũ cho một tính cách làm theo, không chỉ của một nhóm người, một cộng đồng người, mà là của cả một dân tộc ! Rõ ràng đây là một minh chứng tiêu biểu cho cái logic thông thường trong tư duy của người nắm quyền lực. Họ muốn phát huy tối đa quyền lực đó, muốn tất cả mọi người phải tuân theo cái gậy chỉ huy của mình. Đôi lúc cần thiết, họ chọn cách chìa ra củ cà rốt, cách mị dân khá quen thuộc. Nhưng dù cây gậy hay củ cà rốt, thì trong não trạng của kẻ nắm quyền lực là muốn biến tất cả những người họ đang cai trị thành đàn cừu! Họ không biết rằng, đã từng có một cảnh báo được đưa ra “Một xã hội của loài cừu cuối cùng sẽ phải sinh ra một nhà nước của loài sói”' [Bertrand de Jouvenel]. Phải chăng là cái nhà nước toàn trị phản dân chủ này đang muốn biến cả dân tộc vốn có truyền thống bất khuất quật cường thành đàn cừu?
Nếu không phải thế thì tại sao cái đáng học tập và thực hiện nghiêm chỉnh và trung thực nhất, có ý nghĩa lớn lao nhất đối với sự tồn vong của cả dân tộc, thì người ta lại lờ đi? Đã thế lại sẵn sàng dùng giải pháp “cả vú lấp miệng em” nhằm bịt miệng những ý kiến phản biện về những sai lầm về lý luận và thực tiễn bằng luận điệu “con đường Bác đã lựa chọn”! Đã đến lúc phải nói rõ về điều này với “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn cái gì.
Theo Hồi ký của Vũ Kỳ “đó là buổi sáng thứ hai, mồng 10 tháng 5 năm 1965… đúng 9 giờ, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại mãi mãi mai sau. Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình; chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm gần đây để viết về ngày ra đi của mình, sao mà thanh thản, ung dung đến thế…”. Ngày 19/05/1969 “đúng 9 giờ, Bác ngồi vào bàn làm việc với bản di chúc trước mặt… tựa lưng vào thành ghế, thoải mái, ung dung, nét suy tư hiện lên vầng trán rộng. Hôm nay, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản viết của mình trong bốn năm qua, cả phần chính và phần phụ lục, nhưng chỉ chữa thêm ba chữ ở phần mở đầu”. Bốn năm để viết có một nghìn chữ. Sau bốn năm xem lại lần cuối cũng chỉ sửa có ba từ.
Một sự dồn nén, chưng cất của ý tưởng và tình cảm đạt tới độ minh triết của một tầm vóc tư duy không còn bị ràng buộc và câu nệ bởi bất cứ cái gì: thời gian thúc bách hay không gian hạn hẹp. Vì thế, chúng ta có quyền tin chắc vào độ “chín”, đạt đến sự tường minh của tư tưởng trình bày trong Di chúc. Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút viết Di chúc, 10/05/1965, thời gian đã tạo ra một độ lùi cần thiết để cho sự kiện đủ sức trở thành ấn tượng lịch sử. Mà lịch sử là cái đã xảy ra, không ai có quyền thêm bớt lịch sử, song ai cũng có quyền cảm nhận về lịch sử tuỳ theo trình độ nhận thức và chỗ đứng của mỗi người.
“Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống của con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”. [Phạm Văn Đồng] Sự “nhạy cảm đặc biệt”, sự “thấu hiểu”, sự “nhận thức” đó đã tạo nên tầm nhìn lãnh tụ, tạo nên bản lĩnh và cốt cách Hồ Chí Minh, hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi biết rằng, cuối cùng rồi mình cũng phải thực hiện cái quy luật khắc nghiệt của cuộc sống, Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng là căn dặn Đảng phải làm gì cho nhân dân mình, đất nước mình, dân tộc mình, đó cũng là “muôn vàn tình thân yêu” để lại cuộc đời này. Lời căn dặn ấy, rốt cuộc được dồn nén lại trong “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Trong “điều mong muốn cuối cùng” Hồ Chí Minh không hề nói đến Chủ nghĩa xã hội!
Nhìn trở lại hành trình lịch sử của Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, cho đến khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến Di chúc của Người sẽ hiểu ra điều đó. Độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu trước sau như một của Hồ Chí Minh. “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Cho đến “lúc cuối”, trong toàn bộ Di chúc của Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán “chủ nghĩa yêu nước” đó, tập trung trong “điều mong muốn cuối cùng” và cũng là câu cuối cùng, câu quan trọng nhất trong “Di chúc”.
Nên lưu ý rằng, từ sau ngày 10/05/1995 bắt đầu viết Di chúc, “mỗi năm lại dành thời gian xem lại, sửa chữa và bổ sung, tất cả chỉ trên 1000 từ với biết bao tình cảm, hoài bão và khí phách” [Phạm Văn Đồng]. Như vậy rõ ràng là Hồ Chí Minh viết “Di chúc” trong một tâm thế bình tĩnh, ung dung để có thể đắn đo cân nhắc từng chữ từng câu, từng ý. Hoàn toàn không thể có chuyện vội vã nên quên ý này, ý khác, nhầm lẫn hoặc bỏ sót từ này, chữ kia. Mà ngược lại, mỗi ý, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi dấu phẩy, dấu chấm đều được cân nhắc rất kỹ, sửa đi, sửa lại nhiều lần. Vậy tại sao Hồ Chí Minh không nhắc đến mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trong “tài liệu tuyệt mật” và hết sức quan trọng này?
Phải chăng, với Hồ Chí Minh, mục tiêu dễ hiểu nhất, cụ thể nhất là “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” được đọng lại trong câu kết của bản “Di chúc”!
Bằng sự từng trải và chiêm nghiệm của một người mà trọn cuộc đời dành hết cho việc tìm đường cứu nước, toàn bộ trí tuệ và tâm huyết cũng như bản lĩnh và kinh nghiệm của một nhà cách mạng chuyên nghiệp, một nhà văn hoá uyên bác đã từng dồn hết cho công cuộc chèo lái con thuyền cách mạng qua biết bao phong ba, bão táp, thác ghềnh đến được cận kề với mục tiêu, vào lúc tĩnh tâm nhất để có thể đạt tới sự minh triết, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì.
Nói lên điều này thì tất cả mọi người Việt Nam vốn nặng lòng vì đất nước, quê hương cùng có chung nguồn cội, cho dù đang ở đâu, làm gì cũng đều hiểu, đều tán thành. Đây là sức hút quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam yêu nước mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở. Đây cũng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy và phát huy tính đồng thuận xã hội, nền tảng của đại đoàn kết dân tộc. Phải bằng cách hiểu đó, chúng ta mới tiếp cận được với điều mà Hồ Chí Minh muốn gửi gắm lúc sắp ra đi.
Đây không thể là một suy đoán cảm tính chủ quan, mà thật sự là một câu hỏi rất nghiêm túc cần đặt ra để suy nghĩ và tìm lời giải đáp. Một cán bộ lão thành có cho biết là trong một hội nghị những người cao tuổi nhắc lại những hồi ức về Bác Hồ, có cả ông Hoàng Tùng dự, một người kể lại: khi Bác đã rất mệt, có một cán bộ lãnh đạo cao cấp đã được biết về Di chúc đã hỏi Bác: “khi viết di chúc, Bác đã quên không viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Bác có trả lời: “chú nhầm, Bác không quên, chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Trung Quốc nhiều vấn đề lắm. Bác không quên, không nhầm, các chú nhầm”. [theo Đào Xuân Sâm].  Đừng quên là Hồ Chí Minh đã từng nói rõ: "Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc". *
Cần phải thấy rằng, sự gặp gỡ giữa lý tưởng “ái quốc” và lý tưởng “cộng sản” trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ của lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Hơn nữa, lại càng phải chú ý, trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh, giải phóng con người là trung tâm. Nhìn lại nhân cách, tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ một luận đề: mục tiêu, cứu cánh, phương tiện và động lực cách mạng đều ở trong con người. Chính ở đây, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh bắt gặp lý tưởng cộng sản, nội dung của lý tưởng đó thể hiện tập trung ở tư tưởng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”, đó là tư tưởng của C.Mác trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Có thể nói, tư tưởng này là sự hội tụ của những khát vọng của con người, của loài người trong suốt chiều dài của lịch sử, từ khi con người có tư tưởng, biết tư duy, biết đau khổ và hy vọng. Vì thế,  “Người Yêu Nước” ấy biết phải làm gì trên từng chặng của con đường vạn dặm nhằm thực hiện khát vọng của loài người mà trước C.Mác, rồi cả sau C.Mác, đã từng có bao nhiêu trái tim lớn, khối óc lớn mơ ước và đều đang mày mò tìm con đường thực hiện. Cái đích còn ở chân trời phía trước.
Trong sự bay bổng của lý tưởng và khát vọng, không sao tránh khỏi những không tưởng. Biết như vậy để phải bám chắc vào thực tiễn của đất nước mình, nhân dân mình mà dấn bước trên con đường chưa hề có bản đồ, trong một thế giới đầy biến động không sao dự đoán hết được. Bằng chính cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó, và rồi chúng ta nhận ra tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh, nhận ra “điều mong muốn cuối cùng” của “Người Yêu Nước” ấy.
Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng nhờ vào sự uyên bác của một nhà văn hoá và sự từng trải của một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khuyết tật mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, nắm trong tay mảnh đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, nước mất, nhà tan, Hồ Chí Minh hiểu rõ cần phải làm gì.
Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã dẫn ra những câu bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1971. Nên nhớ rằng, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này vào thời điểm cận kề khởi nghĩa Tháng 8/1945. Đơn vị “Con Nai” của OSS đã thực thi sứ mệnh độc đáo đó! Và có lẽ cũng nên nói thêm rằng, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh còn lưu giữ hai bức thư Hồ Chí Minh viết bằng tiếng Anh ngày 18.8.1945 gửi cho hai người bạn Mỹ trong cơ quan tình báo O.S.S để cảm ơn sự giúp đỡ của Đồng Minh và ngỏ ý tiếc họ đã rời Việt Nam quá nhanh.
Bằng những trải nghiệm của một người đi tìm đường cứu nước, từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, trước khi hôn lên nắm đất quê hương ngày trở về Hồ Chí Minh đã từng nhiều năm sống trên đất Liên Xô, Trung Quốc, vì sao lại mở đầu tác phẩm mà Võ Nguyên Giáp viết “như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người” ?
 Chỉ có thể giải thích rằng, với tác giả của Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, những lời trích dẫn ấy chính là những dòng ánh sáng kết tinh trí tuệ của cả loài người chứ không chỉ của riêng một quốc gia, dân tộc nào. Phải chăng đó chính là ánh sáng tỉnh thức. Chính “ánh sáng tỉnh thức” ấy đã soi rọi con đường dẫn đến Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng là định hướng cho mục tiêu phấn đấu của dân tộc ta ngay từ buổi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và ngay từ buổi ấy, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ muốn trường tồn và phát triển, đất nước này, dân tộc này phải đứng vào trong quỹ đạo phát triển của thời đại, phải biết tiếp nhận nguồn sức mạnh của thời đại đến từ đâu. Những bước đi oái oăm của lịch sử đã khiến cho trong những bước gập ghềnh của sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong nửa sau của thế kỷ XX, có lúc ánh sáng tỉnh thức đó bị lu mờ đi, nhưng trong sâu thẳm tâm thức của Hồ Chí Minh, ánh sáng đó vẫn chiếu rọi để rồi được biểu hiện ra trong câu cuối cùng của Di chúc về điều mong muốn cuối cùng.
Giải đáp một cách đầy đủ và trung thực điều này sẽ có ý nghĩa rất lớn, tạo ra một bước phát triển mới của sự đồng thuận xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện nay của nhân dân ta. Chẳng phải chỉ chúng ta hiểu điều đó, thế giới cũng quan tâm làm sáng tỏ vấn đề mang tầm vóc của một nhân vật đã đi vào lịch sử. Gần đây, một cuốn sách đã được giới thiệu tại Paris với nhan đề “Le Monde/Histoire-Hồ Chí Minh La Figure de l’Indépendance retrouvée du Vietnam” [Hồ Chí Minh-Gương mặt của nền Độc lập được xác lập ở Việt Nam]. Đây là tập sách nằm trong hệ ấn phẩm có nhan đề “Ils sont change le monde [Họ làm thay đổi thế giới] bao gồm các nhà hoạt động chính trị nổi tiếng trên thế giới. Sách tập hợp những bài viết có liên quan đến Hồ Chí Minh từng được đăng trên báo Le Monde xuất bản ở Paris từ 1946 đến 2005.
Phải chăng nhan đề của cuốn sách cũng đã gợi đến điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh mà chúng ta đang suy ngẫm? Xin được dẫn ra câu Hồ Chí Minh trả lời nhà báo André Blanchet, đặc phái viên của báo Le Monde tại Hà Nội vào tháng 2.1946 được giới thiệu trong cuốn sách đó: “Chúng tôi muốn gì ư? Cũng một điều như ông: điều mà ông mong muốn cho đất nước ông, đó là độc lập…” . Và André Blanchet kết thúc bài báo của mình : “Bóng tối gần như phủ kín căn phòng rộng, tôi chỉ còn nhìn thấy chòm râu thưa và đôi mắt sáng ngời của người đối thoại… “Nếu như có chiến tranh, hãy quay trở lại gặp tôi. Chúng ta vẫn sẽ là những người bạn”. Ông chia tay tôi như vậy “.
Bỗng nhớ lại lời của Hồ Chí Minh căn dặn Võ Nguyên Giáp giữa rừng Việt Bắc ở vào thời khắc quyết định vận mệnh của cả dân tộc. Đại tướng viết trong Hồi ký : “Bác lúc ấy chắc cũng thấy mình yếu quá, có ý dặn lại công việc”. Bác dặn gì: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Ý chí ấy, tầm nhìn ấy trước sau như một chiếm lĩnh trái tim, khối óc của “Người Yêu Nước - Hồ Chí Minh” để rồi đọng lại trong “Điều mong muốn cuối cùng” di chúc lại cho nhân dân mình. Ở đấy thể hiện tập trung nhất mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp Hồ Chí Minh, con người Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấy mới chính là điều Hồ Chí Minh đã chọn.
Chính vì thế, quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII phải là quá trình quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong tư tưởng lý luận cũng như trong hành động thực tế quyết tâm thực hiện “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc. Đương nhiên, trong diễn biến của tình hình hiện nay, thực hiện điều đó không dễ.
Đây sẽ là một “cuộc chiến đấu khổng lồ” nhằm “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”. Dự liệu được khó khăn của cuộc chiến đấu đó, Hồ Chí Minh đã căn dặn phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.
Từ những vấn đề cơ bản đã trình bày, tôi kiến nghị với Đảng: quá trình tiến tới Đại hội lần thứ XII phải là quá trình chuẩn bị một cách quyết liệt để Đại hội ra Nghị quyết về 3 vấn đề sau đây :

1.    Từng bước từ bỏ mô hình Xã hội Chủ nghĩa, nghiêm túc và mạnh dạn tiếp thu những thành công của mô hình xã hội dân chủ ở các nước Bắc Âu để vận dụng vào việc định hình một thể chế dân chủ phù hợp với đặc điểm của Việt Nam.

2.    Dứt khoát loại bỏ cái gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng lý luận để định hướng mục tiêu, đề ra chủ trương đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước.

3.    Quyết tâm thực hiện bằng được “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Muốn thế, cần trở lại với tên nước là Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trở lại với tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam, trở lại với những nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946 dể xây dựng Hiến pháp mới thể hiện được khát vọng và ý chí của cả dân tộc, đẩy tới tiến trình dân chủ hoá nhằm thực hiện quyền làm chủ đích thực của nhân dân, dựa vào dân để đổi mới Đảng phù hợp với quy luật phát triển trong thời đại của nền văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức thế kỷ XXI.

TP Hồ Chí Minh ngày 11.6.2015
Viết để tưởng nhớ đến Võ Văn Kiệt nhân 7 năm ngày mất của ông, người cộng sản chân chính, noi gương khí phách của ông, sự trung thực và quyết liệt của ông trong cuộc đấu tranh nhằm đẩy tới quá trình dân chủ hoá trong việc chuẩn bị tiến tới Đại hội Đảng. 

 Chú thích của tác giả ( Lần 1)
* Đây là bản tham luận không được trình bày. Mặc dầu khi nhận được thư mời của ô. Tô Huy Rứa, chủ tịch Hội đồng lý luận TƯ, tôi đã từ chối vì biết rằng khó có thể trình bày thẳng thắn ý kiến của mình, cho dù đây là “một hội thảo khoa học”! Tuy nhiên, nhiều tháng sau, 5 ngày trước khi khai mạc Hội thảo “khoa học” đó, tôi lại nhận được thư mời của ô. Hoàng Chí Bảo, hình như là người chịu trách nhiệm trong Ban tổ chức Hội thảo giục gửi tham luận , từ chối nữa thì không tiện, tôi đã tạm gạt bỏ những công việc đang làm để kịp viết gửi đến Hội thảo ngày 6.4.2009. Và rồi chiều ngày 8.4.2009 tôi nhận được điện thoại của Ban Tổ chức Hội thảo khuyên là tôi “không nên đến vì không tiện” cho tôi. Tôi có gửi mấy câu chất vấn nhưng không hề nhận được trả lời. 
Nay tôi in tham luận đó trong cuốn sách “CẢM NHẬN VÀ SUY TƯ” vừa ra mắt bạn đọc đầu tháng 6 này. Những đoạn có dấu * là trích từ cuốn sách này, lần lượt tại các trang  23, 31, 30, 323, 350, 148, 232. Tại các trang ấy đã có xuất xứ của những ý, những đoạn trích buộc phải dẫn ra trong bản “Góp ý” này để tiện cho những người làm công tác lý luận tiện xem xét, thẩm định. Vì vậy bài viết hơi nặng nề, mong được thông cảm. TL


Chú thích lần 2 :
 **Kiến nghị này tôi đã trình bày trong Tiểu luận có nhân đề “CHÂN LÝ LÀ CỤ THỂ” hoàn thành cách đây 10 năm vào dịp 19.8.2005 gửi những người có trách nhiệm : một số Uỷ viên Bộ Chính trị, Hội đồng Lý luận TƯ [qua Tổng biên tập báo Đại Đoàn kết với tư cách là Uỷ viên UBTU7MTTQVN] và một số nhà Nghiên cứu tôi quen biết.  Anh Sáu Dân đã dành 1 buổi trao đổi kỹ và yêu cầu tôi chỉnh sửa đôi chỗ để đưa in nhưng làm sao in được. Ngày 27.9.2006, tôi nhận được sự động viêncủa Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua câu đề tặng ghi ở trang đầu Tổng tâp Hồi ký của Đại tướng tặng tôi : “Chúc đồng chí Tương Lai có những đóng góp mới vào lý luận của Đảng” [xem “Cảm nhận và Suy tư” trang 119]. Báo Đại Đoàn Kết thời Lý Tiến Dũng làm TBT có trích đăng một chương trên Tuần San Đại Đoàn Kết vào dịp ấy. GS Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại doc Kinh tế TPHCM có in mấy chục cuốn [ 102 trang khổ giấy  A4] để gửi một số bạn bè thân quen.
Nay tôi nhắc lại những kiến nghị đó trong bản “GÓP Ý” này.