Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

CỤ TẠ ĐÌNH ĐỀ : HUYỀN THOẠI VÀ CHUYỆN THỰC

NoiLieu   
(Nhân ngày sinh lần thứ 98 của cụ TẠ ĐÌNH ĐỀ )
Lời NoiLieu: Đối với học sinh QL lớp bé chúng tôi, cái tên Tạ Đình Đề đã trở thành huyền thoại, trở thành niềm tự hào và mơ ước khát khao về một tài năng của người Việt Nam, của lớp thiếu niên ngày ấy. Tháng 8 năm nay, kỷ niệm 98 năm ngày sinh của cụ, NL xin trân trọng giới thiệu với các bạn học sinh QL, các con cháu cụ HÀ ĐĂNG ẤN và các bạn FB những hiểu biết ít ỏi của mình về thần tượng một thời của chúng tôi.
Cụ TẠ ĐÌNH ĐỀ (còn có tên là LÂM GIANG) sinh 8 tháng 8 năm 1917 tại Hà Tây (cũ) – mất 17 tháng 1 năm 1998 tại Hà Nội. Cụ quê thôn Đại Định, xã Tam Hưng, Thanh Oai, thành phố Hà Nội.


I. CỤ TẠ ĐÌNH ĐỀ VÀ NHỮNG HUYỀN THOẠI
       Dạo học ở trường QL, học sinh được hưởng chế độ "Thứ 7 bánh bao, xi nê''; Tối thứ tư nếu không phải tự học thì chúng tôi vác ghế đến nhà ăn các thày cô để nghe kể chuyện. Chúng tôi rất thích những mẩu chuyện về tình báo áo xanh của Liên xô trong Thế chiến thứ hai, về Giăng văn Giăng (trong bộ tiểu thuyết khổng lồ "Những kẻ khốn nạn - sau này được nhóm Lê Quý Đôn dịch và đổi tên lại là Những người khốn khổ) mà thày Quý kể cho khối học sinh lớp 3 nghe. Rất khâm phục về tài năng của những người tình báo Xô Viết trong phim ảnh, rồi đến những người chiến sỹ Giải phóng quân Trung Quốc hai tay hai khẩu Pạc khoọc vừa chạy vừa bắn lại quân địch. Có ai đó nói với chúng tôi: Việt Nam ta có "ông" Tạ Đình Đề còn bắn giỏi hơn thế nhiều. Rồi tôi được nghe kể những câu chuyện về tài bắn súng ngắn của chú Tạ Đình Đề, về mưu trí của người gián điệp Mỹ "sau về hàng ta".
1. Chuyện cụ thi bắn với gián điệp người Hán:
        Người ta kể rằng khi thi tốt nghiệp trường gián điệp Mỹ ở TQ, nhà trường cho học sinh gián điệp vào một phòng kín, tối om, phát cho mỗi người ba viên đạn để tiêu diệt nhau, ai sống sót thì được coi là tốt nghiệp. Các học viên gián điệp bắn nhau loạn xạ rồi chết hết, chỉ có Tạ Đình Đề và một cô gián điệp người Hán (nghe đâu sau này là vợ ba của Mao Chủ tịch) còn sống sót, Cô gián điệp này bị thương nhẹ, Tạ Đình Đề không trúng viên đạn nào được đỗ đầu trường, được cử sang Mỹ học tiếp để thành Siêu điệp viên. Chuyện nghe thật vô lý nhưng chúng tôi cũng thấy khoái vì người Việt Nam ta giỏi quá, hơn hẳn gián điệp đặc vụ của Tưởng Giới Thạch, lại bắn bị thương vợ ba của Mao Chủ tịch nữa... Sau khi tốt nghiệp lớp Siêu điệp viên ở Mỹ, Tạ Đình Đề được cử về Việt Nam để ám sát cụ Nguyễn Ái Quốc nhưng vừa thấy cụ Nguyễn Ái Quốc, Tạ Đình Đề đã bị cảm hoá và đầu hàng cách mạng. Thế mới có câu ca:
                 Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
                Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.
                 Hoan hô ông Tạ Đình Đề
                 Trước là Gián điệp sau về hàng ta
                 Hoan hô ông Lê Quảng Ba ...
                 Trước là thổ phỉ sau ra với mình ...

2. Chuyện cụ Tạ Đình Đề làm bảo vệ Bác Hồ
         Sau khi được Bác Hồ cảm hoá, chú TĐĐ tình nguyện làm bảo vệ cho Bác. Có một lần, trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ mặc bộ quần áo rách mà bẩn để chuẩn bị đi dự một hội nghị quan trọng, TĐĐ và những người thân cận khuyên Bác thay bộ quần áo khác nhưng Bác không nghe, cứ thế lên ngựa đi hội nghị. TĐĐ bèn rút súng lục bắn hai phát sượt dái con ngựa Bác Hồ cưỡi, ngựa lồng lên hất Bác Hồ ngã xuống vũng nước, thế là Bác phải đi thay quần áo khác. Chuyện thật ly kỳ. Hồi ở Trạm trú xá Cục Tổ chức TCCT tôi đã được thấy chú ngựa thồ gạo của trạm, nghe kể thế khoái quá, reo lên: "Đúng rồi. bắn sượt dái ngựa thì nó lồng lên ghê lắm, sao chú ấy bắn tài thế".
Lại có chuyện một lần Bác Hồ hút thuốc lá nhưng bật lửa bì mưa ướt bật mãi không được, Tạ Đình Đề bèn rút súng lục ra, bắn "pằng" một phát sượt qua điếu thuốc Bác Hồ đang ngậm trên môi, điếu thuốc cháy; thế là Bác Hồ có lửa để hút thuốc...

3. Chuyện cụ Tạ Đình Đề bảo vệ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp:
       Có một lần chú Tạ Đình Đề được cử đi bảo vệ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, thấy Đại Tướng đội cái mũ cát đã long chỏm, nhiều chỗ vải phồng lên mà không chịu thay mũ mới, Tạ Đình Đề khuyên mấy lần không được bèn rút súng ra vẩy một phát "đoàng", cái chóp mũ của Đại Tướng bay đâu mất, Mũ mà mất chóp thì còn ai đội làm gì. Đại Tướng nhà mình phải thay mũ mới.
       Đại khái là những chuyện tài năng của cụ Tạ Đình Đề dưới con mắt trẻ con của chúng tôi cũng rất trẻ con và ngớ ngẩn, thế mà chúng tôi kẻ nọ truyền cho người kia, thì thầm kể với nhau rất khoái trá. Thực ra những huyền thoại này không phải học sinh QL sáng tác ra mà chỉ thêm thắt tí chút rồi lưu truyền với vẻ li kì thú vi. Cũng có một nguyên nhân là chú Tạ Đình Đề đã từng là học viên Sĩ Quan Lục Quân (1951-1953) khi trường này đang trú tại Quế Lâm Trung Quốc, cùng thời với học sinh trường Thiếu sinh Quân Việt Nam ở Quế Lâm. Những huyền thoại này còn được sáng tác ở nhiều nơi khác, cũng có khi do chính bọn Việt gian tay sai của Pháp bịa ra để doạ nhau (Báo Công An Nhân Dân đã nhắc tới trong nhiều kỳ, tôi không đưa vào đây nữa). Tên tuổi của chú Tạ Đình Đề vang mãi tới Nam Bộ xa xôi. Đặc biệt ở Miệt Cống Thần, Chợ Đại (Hà Nam), Hà Nội... Bà con nhắc đến tên Tạ Đình Đề với thái độ khâm phục, kính nể, trân trọng.

2. CỤ TẠ ĐÌNH ĐỀ BẮN THI VỚI HÀ ỨNG KHÂM
       Đã có lần tôi hỏi bố: "Ông Tạ Đình Đề tài năng thế, sao lại để ông làm TDTT?" Bố tôi bảo: "Không có người tài như Tạ Đình Đề thì không ai quản được cái đội bóng đá Đường Sắt cả." Tôi ngạc nhiên và tìm hiểu nguyên nhân thì được biết đội bóng đá Đường Sắt đá giỏi nhưng cũng thuộc lọai "lắm tài lắm tật" : bên cạnh những cầu thủ hiền lành chất phác còn có cả cầu thủ vốn là ngụy quân của quân đội Pháp trước đây (NVB tiền đạo nổi tiếng một thời của đội bóng đá ĐS nguyên là SQ ngụy), có người đã phạm tội trộm cướp, hiếp dâm, ác ôn, có cả người có nợ máu với nhân dân... nhưng vì có tài nên vẫn được sử dụng. Những cầu thủ này chỉ có ông Đề mới cai quản được.
      Đội bóng ĐS đá giỏi lắm, nhiều trận ngang ngửa với đội Thể Công (sau đổi tên là Câu lạc bộ Quân Đội). Những dịp có đội bóng quốc tế đến đá ở Hà Nôi thì thế nào đội Đường Sắt cũng được chọn thi đấu. Những dịp như thế người ham bóng đá tìm mọi cách "chạy vé", vì vé xem được phân phối về cơ quan đơn vị, bên ngoài không thể mua được. Hà Nội không có cảnh phe vé như những năm về sau này. Những lần có bóng đá Quốc tế, tôi thường thấy cụ Đề đến nhà tôi, ngồi chơi rất lâu, có hôm đến tối mới về. Tôi hỏi bố thì cụ bảo: Chú ấy đi trốn những người đến xin vé đấy. Ở nhà thì suốt ngày tiếp khách xin vé nên phải đến đây trốn, có hôm còn phải lang thang ngoài bờ hồ Hoàn Kiếm đến 10 giờ đêm mới dám về nhà, bố thấy tội quá mời chú ấy đến đây chơi cho vui.
       Có lần bố tôi bận phải đi công tác, thấy cụ Đề đến, bố bảo tôi: "Bố bận đi công tác, con ngồi chơi nói chuyện với chú Đề cho vui".
       Được dịp may hiếm có, tôi lân la hỏi cụ chuyện trước đây học làm gián điệp do Mỹ đào tạo như thế nào, bảo về Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra sao... rồi kể lại các chuyện mà bọn trẻ con chúng tôi vẫn bí mật kể nhỏ với nhau về cụ. Cụ Đề cười khì và bảo: "Chúng nó bịa đấy, làm gì có chuyện bắn ngựa với bắn chóp mũ, bắn thế có mà tù à!”.
Rồi Cụ Tạ Đình Đề kể chuyện đi học lớp gián điệp do Mỹ tổ chức huấn luyện tại Vân Nam Trung Quốc. Tuy không phải do Trung ương Đảng CSĐD cử đi nhưng là người được tổ chức Đảng ở đề pô xe lửa Lào Cai cử đi học để sau này về phục vụ cho cách mạng, vì thế làm gì có chuyện cụ Đề đi ám sát Bác Hồ. Đấy là chuyện tượng tượng, bịa đặt của những người đa sự.
      Rồi cụ kể chuyện bắn súng cho tôi nghe: Chuyện này thì có thật. Năm 1945 phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân đội Tưởng được phân công vào miền Bắc Việt Nam tước khí giới quân đội Nhật. Thời ấy khi quân Tưởng vào, kéo theo một lô các phần tử thân Tưởng (Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh) phá hoại Cách mạng Việt Nam.
         Quân đội Tưởng vào Việt Nam có nhiều người ốm đau bệnh tật và đói, tiền Quan Kim của Tưởng mất giá nghiêm trọng, có khi một gánh tiền đem đi chợ chỉ mua được mấy mớ rau. Dân ta nhại theo điệu bài Tiến quân ca có câu:
                  Đoàn quân tàu ô đi
                  Sao mà ốm thế
                  Vác chân phù lang thang trên đất Việt Nam
                  Cờ sao trắng rách mướp theo chiều gió
                  Đứa nào sang không ốm thì phù chân
                  Tiền quan Kim nó cứ tiêu bừa ....
 
 Thế nhưng bọn sỹ quan quân đội Tưởng dưới sự chỉ huy của tướng Hà Ứng Khâm thì sống sa hoa và coi thường quân dân ta lắm.
      Quân ta quyết trị cho chúng một trận thì may thay trong một dịp làm việc với Bộ Tư Lệnh quân Tưởng, khi tướng Hà Ứng Khâm huênh hoang tài bắn giỏi trăm phát trăm trúng, cụ Tạ Đình Đề cũng có mặt trong buổi đó đứng lên thách đấu. Hà Ứng Khâm không biết Tạ Đình Đề là ai, hăng hái nhận đấu với điều kiện: ai thua phải chiêu đãi toàn đoàn bên thắng một bữa đại tiệc ở khách sạn sang nhất Hà Nội.
       Cuộc tỉ thí diễn ra ngay tại BTL quân Tưởng. Ba chiếc đĩa nhỏ có đường kính khoảng 8 cm được treo lên. Tướng Hà Ứng Khâm đứng cách xa 10 m, bắn ba phát chỉ trúng có 2 đĩa. Thế cũng là giỏi lắm rồi. Sỹ quan Tưởng ra sức khen ngợi để làm nhụt chí khí bên ta.
       Đến lượt cụ Tạ Đình Đề lên bắn, cụ không cần nhắm lâu, vẩy tay ba cái, cả ba cái đĩa nhỏ đều vỡ tan. Bắn xong, giành chiến thắng, cụ Đề đứng lên mời toàn đoàn Việt Nam và đoàn quân Tưởng "ngày mai đến khách sạn dự chiêu đãi do Tướng Hà Ứng Khâm chủ chi".
      Hà Ứng Khâm thua cay lắm, cố cãi chày cối không chịu chủ chi, cụ Đề kể: "Lúc ấy tao rút trong túi ra tờ giấy Ủy quyền có dấu củ khoai của Tưởng Giới Thạch cho phép "tiền trảm hậu tấu" mọi quân nhân Trung Hoa Dân Quốc ở Việt Nam nếu không thi hành mệnh lệnh. Hà Ứng Khâm thấy tờ giấy mới sợ hết hồn, phải chiêu đãi quân ta một bữa túy lúy càn khôn và từ đấy bớt thói kiêu căng hống hách với cán bộ Cách Mạng Việt Nam mỗi khi phải tiếp xúc.
      Khi bố tôi đi công tác về, tôi kể chuyện bắn thi và cái giấy có dấu triện củ khoai của Tưởng Giới Thạch, bố tôi bảo: "Giấy ủy quyền thật đấy, bố đã được thấy tờ giấy ấy rồi. Chú Đề không muốn nhiều người biết chuyện này nên nói là giấy có dấu triện củ khoai thôi."
---------------------------------------------------
Chép từ Blog NoiLieu

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

TRÍ THỨC & PHÁT TRIỂN :

 Ám ảnh quá khứ và hy vọng tương lai 
Nguyễn Quang Dy

“Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai” (Dalai Lama)

Cách đây hơn một thế kỷ, các bậc tiền nhân (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) đã khởi xướng phong trào Đông Du để học tập người Nhật, nhằm khai trí và canh tân, định dựa vào Nhật để kháng Pháp giành độc lập. Nhưng tại sao phong trào này không thành công? Tại sao người Nhật làm được mà người Việt không làm được? Đến tận bây giờ (hơn một thế kỷ sau) người Việt vẫn loay hoay “định nghĩa lại trí thức”, vẫn loay hoay với một đất nước “không chịu phát triển”. Tôi trộm nghĩ dân trí và canh tân (hay trí thức và phát triển) là những cặp phạm trù có quan hệ mật thiết với nhau và tỉ lệ thuận với nhau. Thiếu cái này thì không thể có cái kia. Cái này yếu thì cái kia cũng kém. Hãy thử lý giải vài nguyên nhân chính.

Thứ nhất: Ảnh hưởng quá nhiều bởi văn hóa hủ nho
Cách đây một thế kỷ rưỡi, người Nhật đã làm được một cuộc cách mạng “văn hóa tư tưởng” vĩ đại là “Thoát Á” (Fukuzawa Yukichi, 1835-1901). Họ học hỏi Phương Tây để ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao dân trí bằng “duy tân”, để thoát khỏi những ảnh hưởng lạc hậu của Nho giáo trong nhiều thế kỷ. Vì vậy, họ đã biến được nước Nhật lạc hậu thành một quốc gia hiện đại, chấn hưng được đất nước (Meiji Restoration).
Nhưng tại sao người Nhật làm được, mà người Việt không làm được? Nước Nhật có Fukuzawa Yukichi, thì nước Việt cũng có Bùi Viện và Nguyễn Trường Tộ… Chúng ta thường tự hào về một nước Đại Việt, “nhân tài như lá mùa thu” và “rừng vàng biển bạc” (chắc Nhật không bằng). Đáng lẽ Việt Nam phải bằng hay hơn Nhật chứ?
Vậy tại bước ngoặt lịch sử đó, những yếu tố gì đã quyết định vận mệnh khác nhau của các quốc gia Châu Á này? Thứ nhất, nếu đọc kỹ thì tư tưởng của Fukuzawa Yukichi rất rõ ràng và triệt để, không nửa vời, không bị chấp vào Nho giáo như các trí thức (hủ nho) người Việt. Thứ hai, năng lực truyền thông và quản trị của họ giỏi hơn, tính cộng đồng của họ cao hơn. Thứ ba, Fukuzawa Yukichi không đơn độc như ông Bùi Viện và Nguyễn Trường Tộ, vì có nhiều trí thức, thương nhân, và “một bộ phận không nhỏ” samurai tham gia.
Trong khi người Nhật “Thoát Á”, học hỏi Phương Tây để hiện đại hóa đất nước, thì người Việt lại bài ngoại và đắm chìm trong Nho giáo cổ hủ. Vua quan và trí thức tối ngày uống rượu ngâm thơ, tầm chương trích cú, không lo chấn hưng kinh tế và quốc phòng. Những gì vua Gia Long làm được để thống nhất và chấn hưng đất nước (bằng cách hợp tác với Tây phương) thì các đời vua sau đã làm ngược lại. Vì vậy, khi Pháp đem quân đến xâm chiếm thì nước An Nam hủ nho và yếu kém không chống lại nổi, đành từng bước đầu hàng, trở thành thuộc địa. Bài học này đáng suy nghĩ, khi nguy cơ “Bắc Thuộc” đang hiện hữu. Trong khi trẻ con suốt ngày chơi game như nghiện xì ke, thì người lớn (cả trí thức và quan chức) cũng tối ngày nhậu nhẹt xả láng, sa đà vào những trò tiêu khiển xa hoa, hoặc tranh cãi về những vấn đề viển vông, chẳng khác gì thời trước các cụ uống rượu ngâm thơ. “Hủ nho” là một thói quen.
Quang Trung là một ông vua tài giỏi, có đầu óc canh tân, nên đã thu phục được nhân tài (như Ngô Thì Nhậm), xây dựng được một đội quân thiện chiến (ứng dụng chiến lược, chiến thuật mới), nên đã dẹp được thế lực chúa Trịnh và Nguyễn, thắng được quân Xiêm và quân Thanh, thống nhất được đất nước. Nhưng đáng tiếc là ông ấy chết sớm, hệ thống quản trị đất nước lạc hậu, các con yếu kém tranh giành quyền lực, nên đã thất bại.
Gia Long cũng là một ông vua tài giỏi, có đầu óc canh tân, biết tranh thủ nguồn lực của Tây phương, nên đã đánh bại được nhà Tây Sơn, thống nhất được đất nước. Nhưng hệ thống quản trị đất nước cũng lạc hậu, các đời vua sau không chịu duy tân để “Thoát Á”, mà còn xua đuổi người Phương Tây, kể cả cha Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes, 1591-1660) là người đã sáng chế ra chữ quốc ngữ. Về tư tưởng, Bộ luật Gia Long là một bước thụt lùi so với bộ luật Hồng Đức, vì dựa vào Nho giáo quá nhiều, không hiểu là thời thế đã thay đổi. .
Theo các nhà nghiên cứu, Nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” (theo Alexander Woodside). Đó là một thực tế mà quan lại và trí thức Việt thời đó không hiểu, vẫn nhắm mắt đi theo. Người Việt chịu ảnh hưởng quá nhiều của Nho giáo (hủ nho), từ thượng tầng chính trị đến hạng tầng xã hội. Ngay cả những người cộng sản thế hệ đầu cũng xuất thân từ nhà nho (như cụ Hồ, ông Trường Chinh, và nhiều người khác). Cụ Hồ cho rằng chủ nghĩa Đại đồng của Khổng Nho rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Trong di chúc, cụ Hồ còn trích dẫn một câu của ông Đỗ Phủ đời Đường, “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”…

Thứ hai: Ảnh hưởng quá lớn bởi tư tưởng cực đoan và quá khích
Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập và những người cộng sản đã “cướp” được chính quyền. Câu hỏi đang gây tranh cãi là những người cộng sản lúc đó tài giỏi hay họ gặp may, vì “khoảng trống quyền lực” sau khi Pháp bị Nhật đảo chính phải bỏ chạy (3/1945) đến lúc Nhật đầu hàng (8/1945). Khi bối cảnh lịch sử tạo ra khoảng trống quyền lực (trong mấy tháng), thì những người cộng sản đã nhạy bén, tranh thủ thời cơ “cướp” chính quyền một cách dễ dàng (từ tay Bảo Đại và Trần Trọng Kim). Không phải vì những người cộng sản mạnh giỏi, mà vì những người không cộng sản lúc đó yếu kém (vì bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi Nho giáo).
Nói cách khác, những người cộng sản vô thần, nên họ thực dụng hơn, cực đoan hơn, bạo lực hơn, nên họ đã thắng. Nhưng vấn đề là họ sẽ dẫn đất nước đi đến đâu. Tại Liên Xô và Đông Âu, chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ cùng bức tường Berlin. Tại Châu Á (như Trung Quốc, Việt Nam) chủ nghĩa cộng sản chỉ tồn tại như một cái vỏ (tư tưởng) với một cái ruột (kinh tế tư bản). Cuba đang thay đổi. Bắc Triều Tiên là một ngoại lệ. Nhưng điều gì làm cho những người cộng sản Trung Quốc và Việt Nam vẫn cố thủ, không chịu đổi mới chính trị? Chỉ có thể lý giải rằng họ chịu ảnh hưởng quá nhiều và quá lâu bởi hai luồng tư tưởng độc hại. Thứ nhất là tư tưởng Nho giáo (hủ nho), và thứ hai là Mao giáo (cực đoan và bạo lực). Hệ lụy về ý thức hệ này giống như hội chứng nhiễm độc lâu ngày, đã ăn sâu vào tiềm thức, thậm chí có thể di truyền.
Vào những bước ngoặt lịch sử của cách mạng ở Pháp, Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba… xu hướng cực đoan và bạo lực có sức hấp dẫn đối với quần chúng, nên cách mạng dễ thành công. Không phải ngẫu nhiên mà những nhà cách mạng có xu hướng cực đoan và bạo liệt ở Pháp như Louis Saint-Just (1767-1794) và Jean-Paul Marat (1743-1793) hay ở Cuba như Che Guevara (1928-1967) đã trở thành những huyền thoại, hấp dẫn nhiều thế hệ cách mạng khuynh tả tại các nước thuộc thế giới thứ ba, nơi dân trí còn lạc hậu. Nó lý giải tại sao một số nhà cách mạng Châu Á thế hệ đầu của một số nước Phương Đông (như Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai,Đặng Tiểu Bình, Pol Pot, Ieng Sary, Khieu Samphan) lại thích Paris hay Moscow, và chịu nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu cánh tả của Pháp và Nga. Nó lại được nhân lên và nhiễm độc bởi chủ nghĩa Mao. Đến cả Miến Điện (Myanmar) cũng bị lây nhiễm. Hệ quả thế nào thì đã rõ.
Năm 1954, những người cộng sản Việt Nam (Việt Minh) đã đánh thắng quân viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ, làm chấn động dư luận. Năm 1975, những người cộng sản Việt Nam (Việt Cộng) lại một lần nữa đánh thắng quân Mỹ và VNCH tại Miền Nam, làm cả thế giới bị sốc. Sự kiện Sài Gòn thất thủ (30/4/1975) với những hình ảnh tượng trưng được giải Pulitzer là nỗi ám ảnh của Chiến tranh Việt Nam. Nghịch lý của cuộc chiến tranh đẫm máu đó đã để lại những bài học đau đớn cho cả Mỹ và Việt Nam, mà nhiều cuốn sách và bộ phim tài liệu đã đề cập đến (nhưng vẫn chưa đủ). Hãng phim tài liệu Florentine Films đang làm một bộ phim mới nhiều tập về Chiến tranh Việt Nam, sẽ phát trên kênh PBS năm 2016 (The History and Meaning of the Vietnam War, by Ken Burns & Lynn Novick).
Một lý do đơn giản mà Việt Minh hay Việt Cộng đã thắng là họ cực đoan và bạo liệt, sẵn sàng “đánh đến người Việt cuối cùng”, không phải chỉ với vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô, mà còn với những vũ khí bí ẩn khác như “đường mòn Hồ Chí Minh” và “địa đạo Củ Chi”. Chiến tranh du kích (kèm theo cả khủng bố) là một học thuyết còn nhiều tranh cãi, nhưng nó đã làm cho người Mỹ và Nga phải điên đầu tại Việt Nam, Afghanistan và Iraq.
Nhưng điều trớ trêu là những cuộc chiến đẫm máu đó có thể là không cần thiết và là sản phẩm của sự nhầm lẫn về tư duy và tầm nhìn, của những người tài giỏi nhưng cuồng tín. Lập luận rằng “chiến tranh không thể tránh khỏi” thường chỉ để biện hộ cho sự cuồng tín và nhầm lẫn. Năm 1995, Robert McNamara đã chính thức thừa nhận sai lầm trong cuốn sách của mình. Nếu những người cầm quyền không cực đoan và cuồng tín, thì thế giới này sẽ bớt đi nhiều mất mát và đau khổ. Nhưng đáng tiếc, Mỹ đã đổ bộ vào Đà Nẵng (1965) để rồi tháo chạy khỏi Sài Gòn (1975), và 40 năm sau (2015) lại quay trở lại Việt Nam (“Back to the Future”), khi Mỹ xoay trục sang Châu Á để ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình”. Lịch sử đang lặp lại.

Thứ ba: Cái giá qúa đắt của chiến tranh và bạo lực
Cách mạng bạo lực và chiến tranh liên miên làm người Việt được tôi luyện để giỏi chịu đựng và tồn tại (bằng mưu mẹo), nhưng đã để lại những hệ quả khôn lường, rất khó đổi mới tư duy để phát triển (bằng tri thức). Hay nói cách khác, kinh nghiệm và năng lực để tồn tại trong chiến tranh không thể thay thế kinh nghiệm và năng lực để phát triển trong hòa bình. Khi giải phóng Sài Gòn, thành phố may mắn còn nguyên vẹn. Nhưng các chiến sĩ giải phóng trẻ đã phá hoại rất nhiều. Ủy ban Quân quản cũng không thể quản nổi. Không trách được họ vì đó là bản chất chiến tranh, và họ chỉ là những người nông dân cầm súng. Chẳng ai dạy họ phải hành xử như thế nào (như hai phe Nam, Bắc sau nội chiến Mỹ).
Nhưng điều đáng nói là chỉ vài năm sau chiến tranh, tổng kho Long Bình và nhiều kho tàng khác tại Miền Nam đã trống rỗng, tài sản trị giá hàng tỷ USD đã bị tẩu tán như đồng nát. Những sỹ quan thiện chiến có thể là những người quản trị rất tồi. Đơn giản vì họ chỉ được đào tạo để bắn giết và phá hủy, chứ không được đào tạo để quản trị kinh doanh. Đơn giản vì Quân đội Nhân dân Việt Nam không phải là Quân đội Israel chuyên nghiệp (vừa giỏi chiến tranh, vừa giỏi quản trị). Chiến tranh nhân dân chỉ cần những người giỏi chịu đựng, liều lĩnh và cuồng tín, sẵn sàng hy sinh và nhắm mắt tuân lệnh, không cần tư duy. Vì vậy, hệ quả chiến tranh cũng khủng khiếp không kém chiến tranh. Kiêu hãnh và ngộ nhận về chiến thắng đã làm nhiều người mất trí, phải trả giá quá đắt trong vãn hổi hòa bình và tái thiết đất nước thời hậu chiến.
Không những thế, quan hệ bạn thù truyền thống đã bị đảo lộn, vượt khỏi tầm kiểm soát, đã dẫn đến một cuộc chiến tranh mới, làm đất nước vốn đã bị hủy diệt bởi chiến tranh Việt Nam, nay lại tiếp tục bị chảy máu đến kiệt sức bởi một cuộc xung đột mới (Third Indochina War) giữa “anh em bạn thù” (“Brother Enemies”). Thuật ngữ này (của Nayan Chanda) miêu tả rất đúng bản chất quan hệ Việt-Trung, trước kia thân thiết “như môi với răng”, rồi đột nhiên trở thành “kẻ thù nguy hiểm nhất” (1979), đánh nhau chí chết rồi lại bá vai bá cổ nhau như đồng chí “bốn tốt”, gắn bó bằng “16 chữ vàng” (1990). Đó là hệ lụy của tư tưởng Mao giáo.
Trong khi đó, những người dân vô tội đã trở thành nạn nhân, không phải chỉ của kẻ thù xâm lược từ bên ngoài, mà của cả sự cuồng tín và ấu trĩ từ bên trong. Trong binh pháp người ta tối kỵ thế lưỡng nan bị kẹp giữa hai kẻ thù lớn. Đó là khi kẻ thù cũ (Mỹ) và kẻ thù mới (Trung Quốc) bắt tay với nhau, xô đẩy Việt Nam vào vòng tay Liên Xô (một ông bạn khổng lồ nhưng chân bằng đất sét, đang trên đà sụp đổ). Kết cục là Việt Nam đã rơi vào cái bẫy nguy hiểm của Trung Quốc. Cái gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần Thứ ba” là một thảm họa về địa chính trị và tầm nhìn chiến lược. Thất bại về bình thường hóa với Mỹ (1978) đã dẫn đến chiến tranh với Trung Quốc (1979). Đó là cái giá phải trả cho chiến thắng quân sự, cho thái độ kiêu ngạo và cố chấp đối với kẻ thù cũ (Mỹ), cho thái độ quá khích và ấu trĩ đối với kẻ thù mới (Trung Quốc). Đó là một sai lầm chết người, vì đã bỏ lỡ thời cơ chiến lược, phải mất gần bốn thập kỷ sau mới có thể lặp lại. Liệu người Việt Nam có bỏ lỡ cơ hội cuối cùng này không?
Không phải những người cộng sản cực đoan và cuồng tín chỉ sai lầm về đối ngoại, mà còn sai lầm về đối nội. Chỉ trong mấy năm hậu chiến, họ đã biến Miền Nam từ một tài sản khổng lồ thành một đống đổ nát. Không những chỉ lãng phí vô cùng về vật chất, mà họ còn lãng phí vô hạn về tinh thần và tài nguyên con người, xô đẩy hàng trăm ngàn người phải bỏ quê hương ra đi trong tủi nhục. Tất cả là do cực đoan, cuồng tín, bạo lực, cố chấp, và dân trí thấp. Như vậy thì làm sao dân tộc có thể hòa giải, đất nước có thể tái thiết. Gs sử học Trần Quốc Vượng nhận xét rằng từ người thắng đến kẻ thua, tất cả đều thất vọng (frustration).
Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, Mao nói “Trí thức không bằng cục phân” và đầy đọa họ về nông thôn làm ruộng. Còn ở Việt Nam, những người cộng sản cực đoan đã “đào tận gốc trốc tận rễ”. Người ta nói rằng Việt Nam chỉ có những người trí thức (intellectuals) mà không có giới trí thức (intelligentsia). Đơn giản vì giới trí thức nhỏ bé đã bị “trốc tận rễ” bởi hệ tư tưởng Maoism, cực đoan và cuồng tín (không khác gì Khmer Đỏ). Hệ lụy của Nho giáo (hủ nho) và Mao giáo (cực đoan và cuồng tín) là vấn nạn kép đã dẫn đến thảm họa “Cải cách Ruộng đất”, “Nhân Văn Giai phẩm”, “chống Xét lại và chống Đảng”.
Nhiều trí thức cách mạng có tài năng xuất chúng, có công lớn với chế độ như “khai quốc công thần”, nhưng đã bị hạ nhục và đối xử tàn tệ chỉ vì bất đồng chính kiến. Nhẹ thì bị vô hiệu hóa, “ngồi chơi xơi nước”, nặng thì bị lao tù, đến thân tàn ma dại. Đó là ông Nguyễn Hữu Đang, một người tài hoa được cụ Hồ giao trọng trách “bất khả thi” là dựng lễ đài tại quảng trường Ba Đình trong vòng 48 giờ, để cụ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Đó là ông Lê Trọng Nghĩa, một người đầy bản lĩnh, đại diện cho Việt Minh đàm phán với các sỹ quan chỉ huy quân đội Nhật tại Hà Nội, để hậu thuẫn cho khởi nghĩa, không bị đổ máu. Đó là ông Vũ Đình Huỳnh, bí thư đầu tiên của cụ Hồ từ khi mới đặt chân về Hà Nội, đã giúp cụ Hồ vận động các trí thức hàng đầu tham gia chính phủ cách mạng đầu tiên. Đó là nhiều người khác không thể kể hết tên, đã mang theo oan khuất xuống âm phủ. Không biết cụ Hồ sẽ ăn nói với họ thế nào. Làm sao lý giải được những khẩu hiệu như “uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, chiêu hiền đãi sỹ…”. Nhân ngày 19/8 và 2/9, hãy thành tâm thắp một nén tâm hương để tỏ lòng tri ân với họ, để tự vấn lương tâm và cố gắng hòa giải với nhau, thì may ra mới hòa giải được dân tộc.
Dưới thời Đặng Tiểu Bình, người Trung Quốc đã cải cách quyết liệt, kêu gọi trí thức tham gia “ba đại diện” (vì “mèo trắng cũng như mèo đen”). Ví dụ, họ trả lương trí thức cao hơn (nghe nói 10 ngàn USD/tháng cho giáo sư đại học) và đầu tư lớn cho đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa thành “đẳng cấp quốc tế” (world class). Người Việt cũng bắt chước, “định nghĩa lại trí thức”, nhưng trả lương giáo sư đại học chỉ bằng lương công chức, nâng cấp Đại học Quốc Gia thành một “siêu đại học” nhưng không thấy có tên trong bảng xếp hạng các trường đại học trong khu vực. Dân trí như vậy thì phát triển làm sao được? “Thoát Trung” thế nào được?
Một giáo sư Nhật (ông Kenichi Ohno) có lần đã nhận xét rằng khi ông ta đến Việt Nam lần đầu thì rất là ấn tượng vì thấy các bạn Việt Nam (quan chức và trí thức) say sưa tranh luận về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Nhưng 5 năm sau trở lại Việt nam ông ta ngạc nhiên thấy các bạn Việt Nam vẫn say sưa tranh luận về những vấn đề đó. Có lẽ vị giáo sư Nhật hơi khiêm tốn, chứ hiện tượng đó kéo dài 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, không nên ngạc nhiên khi người ta nói Việt Nam thuộc nhóm nước “không chịu phát triển”. Trong khi thiên hạ đua nhau xây dựng “kinh tế trí thức” (knowledge-based economy) thì người Việt đua nhau xây dựng trụ sở, tượng đài hoành tráng (như Mộc Châu, Sơn La), đền chùa nguy nga (như Bái Đính, Sóc Sơn), và tổ chức lễ hội linh đình (như một hội chứng tâm thần).

Thay cho lời kết: Cần nâng cao dân trí và hòa giải dân tộc
Nhưng “nỗi ám ảnh của quá khứ” không thể làm “thui chột tương lai”. Một dân tộc hơn 90 triệu dân, có một lịch sử không tồi và một văn hóa không kém, không thể bó tay quỳ gối chịu trói như “tù binh của quá khứ”, với gánh nặng hệ tư tưởng lỗi thời trên lưng. Nếu không tự lập, tự cường, thì không thể “thoát Trung”, không tránh được “Bắc thuộc”. Nếu không tự lập, tự cường, thì tầm nhìn ASEAN hay Đông Á cũng vô nghĩa, “đối tác chiến lược” với Mỹ và TPP cũng vô nghĩa. Người Mỹ có thể bênh vực kẻ yếu, nhưng chỉ phù kẻ mạnh. Nếu chưa mạnh thì cũng phải có ý chí và nội lực để người khác tin cậy và tôn trọng. Người ta nói rằng bạn có thể bịp được vài người, vào lúc nào đó, nhưng không thể bịp được mọi người, mọi lúc.
Trước hết cần phải phản tỉnh để “giải độc” về hệ tư tưởng, để thoát khỏi cái “bóng đè” của tư tưởng Khổng giáo (hủ nho) và Mao giáo (cự đoan, bạo liệt). Thứ hai, không thể nâng cao dân trí, nếu trí thức (cả bên trong và bên ngoài) không đi đầu để “phá băng”, mở đường và kết nối các phe nhóm (chỉ thích cãi nhau) bằng “tư duy tích cực” (positive thinking) và “hành động xây dựng” (constructionism). Thứ ba, chỉ có trên cơ sở đó, mới có thể kết nối toàn dân, để “hòa giải dân tộc”, vì một nước Việt Nam Hòa bình, Hòa hợp, Hòa thuận, Hòa giải…
NQD. 22/8/2015
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 23-8-15

Chuyện cờ đỏ, cờ vàng

GIƯƠNG CỜ ĐỎ, BỎ CỜ VÀNG!
                                           Nguyễn Ngọc Hùng

BBC Tiếng Việt vừa đăng bài nói về việc thượng cờ Đỏ Sao Vàng tại San Francisco ngày 02/9/2008, ý nói “nhiều người gốc Việt” không thích sự kiện này và không muốn chấp nhận lá cờ Đỏ.
Qua lại Mỹ nhiều lần, tôi cũng chứng kiến một số lần lá cờ vàng 3 sọc đỏ được sử dụng trong những hoạt động mang tính “đoàn ngũ” của một số người Mỹ gốc Việt “ở bển”. Đúng là tâm lý hận thù lá cờ Đỏ Sao Vàng vẫn tồn tại trong một bộ phận Việt kiều ở Mỹ. Nhưng rõ ràng càng ngày, số người tham gia những sự kiện “đứng dưới cờ vàng” ấy ngày một ít đi. Không thích cờ Đỏ thì chắc vẫn còn nhiều. Mà thích cờ Vàng hơn thì chắc chẳng còn bao nhiêu, nhất là thế hệ thứ hai và thứ ba của những người nhập cư vào Mỹ sau 30/4/1975.
Ngay từ Tết Âm lịch năm 2006, trong lần đầu tiên tôi đến “Quận Cam” (thực ra là Orange County- một “tỉnh” thuộc tiểu bang California, không phải “quận” đâu), tôi đã đi thăm một loạt chùa của người Việt mà tất cả đều chỉ có cờ Phật, không chấp nhận cờ Vàng sọc đỏ.
Trong một số dịp thuận lợi, tôi cũng có nói chuyện với một vài Viêt kiều “ở bển” liên quan đến “cờ quạt” này. Tôi nói đại ý: Thích hay không thì tùy, nhưng lá cờ đại  diện cho nước VN hiện nay trên quốc tế, tại LHQ là cờ Đỏ Sao Vàng. Còn lá cờ “của VNCH” thì đã không còn từ 30/4/1975. Lá cờ vàng ấy ra đời cùng với chính phủ Trần Trọng Kim hồi tháng 3/1945, sau khi phát xít Nhật hất cẳng Pháp để độc chiếm VN cùng Đông Dương. Khi ấy, Nhật cho phép vua Bảo Đại thành lập “chính phủ” mà không được có bộ quốc phòng và bộ ngoại giao. Thực chất “chính phủ” này, do Trần Trọng Kim làm thủ tướng do Nhật dựng lên và lá “cờ vàng” luôn phải núp dưới lá cờ Mặt Trời Mọc của Nhật Hoàng. Hội nghị Cairo (tháng 8/1945?) của các nước đồng minh thắng trận đã có nghị quyết không công nhận bất cứ chính quyền nào do Nhật dựng lên trong thời gian phát xít Nhật chiếm đóng. Chính phủ Trần Trọng Kim cũng thuộc diện này. Tiếp sau đó, khi trở lại chiếm được các đô thị của VN, Pháp cho dựng lại “chính quyền quốc gia” do Bảo Đại làm “quốc trưởng”. Từ đó, lá cờ vàng lại núp bóng cờ Tam Tài của Pháp. Cờ vàng tiếp tục được Ngô Đình Diệm sử dụng khi dựng lên chế độ VNCH ở Miền Nam VN, xóa bỏ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào năm 1956. Từ đó cho đến 30/4/1975, cờ vàng luôn núp bóng Cờ Hoa (Hoa Kỳ) để tồn tại!...
Hơn 30 năm núp bóng các lá cờ phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà cờ vàng vẫn bị xóa sổ. Nay những người “mê” cờ vàng đã trở thành “vong quốc” mà vẫn mơ về cái bóng ma ấy thì thật là không thực tế.
Tôi cũng nêu một thực tế là chế độ VNCH từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu cũng đầy tham nhũng, bất công... Nên mới bị đông đảo người ở các đô thị miền Nam khi ấy đấu tranh quyết liệt như “các vị” đều đã chứng kiến. Nếu không có sự bất mãn cực độ của chính người dân trong chế độ VNCH, thì cộng sản có tài mấy cũng không thể đánh bại được “quốc gia” được Hoa Kỳ bảo trợ trực tiếp!...
Nuối tiếc một bóng ma đã chết thực ra chỉ là ảo vọng của một số người ngày càng teo tóp theo thời gian và sự phát triển tất yếu của đất nước VN./.
Tp.HCM 
04/9/2015

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

ĐỂ CHẤM DỨT CHUYỆN BỊA ĐẶT "VN HỒ HỞI CHẤP NHẬN TRỞ THÀNH 1 KHU DÂN TỘC TỰ TRỊ CỦA TẦU CỘNG !"

Chơi mạng đăng đàn mà lơ tơ mơ thì nhãi ranh có thể xỏ mũi...

Biểu tượng Wikileaks 
Và uy tín của mình cũng mất theo, đơn cử câu chuyện dưới đây
Ngược thời gian,Kami dựa vào tin audio ma trơi này:
Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật) - link dưới đã bốc hơi:
http://tonthatphusi.over-blog.net/article-ho-i-nghi-sa-t-nha-p-vn-va-o-china-t-nh-hay-khu-t-tr-53899463.html
Link này cũng không còn:
http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Audio/061509.wma
30.11.2010 Kami đăng bài: Wikileaks – Kế hoạch cho Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh
Các trang chống cộng làm 2 video clip đi kèm việc này, nhưng xem lại chỉ là những phỏng vấn bình luận của một số người về chuyện trên.

Kami sáng tác thành:
(trích)
Và cái gì chờ đợi cũng đã đến, khi tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng BT Đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía Việt nam và ông Giang Trạch Dân Tổng BT và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô.

Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100  các bức điện đánh đi từ Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ “… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công CNCS, Đảng CSVN và nhà nước Việt nam đề nghị
phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng tây…. Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020)để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”.

Đoạn lập lờ chữ nghĩa:
"Đoạn tin đầu nói trên về Biên bản họp kín tháng 9/1990 tại Thành Đô giữa lãnh đạo cao cấp Việt nam và Trung quốc, cũng chỉ là một tin mang tính chất giả thiết của tác giả mà nó có nhiều khả năng khi bị bạch hóa có thể xảy ra mà thôi, chứ đó không phải tin chính thức của Wikileaks....
... Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ."

Nhiều năm qua có rất nhiều vị có máu mặt trích dẫn nội dung trên và đều cho là từ nguồn Wikileaks, rồi bình loạn lên án âm miu, các trang mạng chống cộng tha hồ chém gió cho đó là bằng chứng ĐCSVN bán nươc. Kết quả Google tìm kiếm rất cao, đến giờ tin "tuyệt mật" động trời ấy vẫn chưa nguội trên không gian ảo.

Bị nhiều người commmet truy vấn trang nguồn, chỉ sau một tuần 06.12.2010 Kami lên tiếng khoe thành tích bịp được vô số người, hắn cho là mình viết chuyện phiếm chơi, không một lời xin lỗi vì đã cho độc giả ăn "món vịt cồ Bắc Kinh". (ý Kami là ngu ráng chịu) - Xem ở Đây

Điểm chết người là các vị xem trang mạng tán phát mà không chịu khó truy, xem bài ảnh gốc và tin từ link nguồn nào, chuyện thông tin trời ơi đất hỡi không hiếm, không ít vị đã bị sập hố, đối thủ có dịp dè bỉu chế nhạo. Các ông áo dài Bô Xít, Thánh Đào,...cũng bị vài lần.
Đáng tiếc mới đây, Thiếu tướng Lê Duy Mật cho là theo tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Trung Quốc - (chính là thay đổi thứ tự vai chữ ở đoạn chữ nghiêng phía trên của Kami). Còn ông Đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang chộp ảnh bản chuyển ngữ audio ma trơi về dẫn đăng trong bài ở Blog Đại tá Bùi Văn Bồng . Rồi chính Kami viết bài trên blog RFA ngày 10.8.2014 dẫn ngược lại là theo ông Lê Duy Mật, đểu thế là cùng!
02.9.2014, trong Kiến nghị gửi CT nước, TT chính phủ, 20 sĩ quan cao cấp cựu tướng tá tiếp tục trích dẫn: Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Sự thật chẳng có nguồn "Wikileaks, Tân hoa xã, Hoàn cầu, hay Kỷ yếu hội nghị công bố" nào suất!

Những chuyện như vậy, tất nhiên RFA không bỏ lỡ cơ hội. Cái chính là do Đảng, Nhà nước không minh bạch thông tin về thỏa thuận hội nghị Thành Đô giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Trước thông tin bịa đặt như vậy, báo chí chính thống, đội ngũ dư luận viên không phản pháo được đành phải im vì "há miệng mắc quai" muốn chứng minh nó sai thì phải dẫn cái đúng, lấy đâu ra. Và nhiều người còn tin âm miu kinh hoàng đó...

Năm 2011, Kami từng dựng chuyện trong bài:
(trích)
"Trong thời gian đó, theo họ ông Hồ Chí Minh có thỏa thuận và hứa với Sihanouk sẽ trả lại vùng lãnh thổ mà Campuchia để mất vào tay nhà Nguyễn đầu thế kỷ XVII (kể cả Sài gòn) khi giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt nam. Với điều kiện Campuchia cho phía Bắc Việt nam được sử dụng các tỉnh phía đông Campuchia làm những căn cứ cho quân đội Bắc Việt Nam và các lực lượng Việt Cộng hoạt động chống lại phía VNCH"
....
"Nhưng chuyện thời gian 1991- 1993, trước khi cuộc bầu cử do Liên Hiệp Quốc tổ chức năm 1993 hàng loạt sĩ quan cấp tá quân đội Việt nam nhận được chỉ thị lấy vợ Campuchia để nhập quốc tịch và trở thành tướng lĩnh trong Quân đội Hoàng gia Campuchiathì chắc chắn 100%."
Lão Cạo đã lên án sau khi xem bài:
Theo lời Kami đã từng làm nhiệm vụ ở Campuchia 5 năm, người có học tất ít nhiều am hiểu, không thể gọi là ngộ nhận.
Tôi là lính VN ở K khá lâu (biết tiếng lẫn chữ Khmer), tiếp xúc nhiều với dân (có cha mẹ nuôi) và những người có học, thực tế công tác và qua tìm hiểu: Đúng là quan hệ VN- CPC rất phức tạp, có chuyện người Khmer ghét người Việt. Nhưng hai đoạn nói trên, tôi chưa từng nghe trong nội bộ QĐNDVN và cũng như từ người CPC. Nếu có đi nữa thì nguồn vu vơ, nếu không chứng minh thì Kami bịa đặt, đăng có dụng ý, làm cái loa nối dài cho tên diệt chủng Nuon Chea.
Không thể tưởng tượng bất kỳ lãnh đạo của một quốc gia nào lại cắt 1/3 nước mình cho quốc gia khác.
Chuyện "hàng loạt sĩ quan cấp tá quân đội Việt nam nhận được chỉ thị lấy vợ Campuchia để nhập quốc tịch..." Cũng là đồn đại, một ít người có gốc gát khmer trong hàng ngũ quân chính phủ CPC là việc có từ lâu. Nói hàng loạt là bậy, sĩ quan cấp úy tha hóa một số ít là có, số nhiều là lích lác bầy hầy lấy gái CPC, tất cả đều bị kỷ luật tước quân tịch, ở lại CPC kiếm sống như dân thường, đám ô hợp lấy vợ CPC cửa nào mà ngoi lên trong hệ thống chức quyền của nước sở tại.  

Thay vì tố cáo TQ phải chịu trách nhiệm hậu thuẫn cho chế độ diệt chủng ở Campuchia, lại chỉa mũi dùi về hướng Việt Nam. Cái khẳn định 100% là nhân dân Campuchia dù không thích vẫn phải biết ơn, vì VN đã giải phóng Camupuchia thaót họa diệt chủng - đó là lương tri con người. Còn thế này thế khác là chuyện chính trị của từng thế lực, lợi ích của từng quốc gia.
Thợ Cạo gọi Kami là Kaminomoto (bột ngọt độc hại) từ cái lò Rờ ép a (RFA) là thế!
----------------------------------------------------------
Nguồn : Blog Người Đồng Bằng ( của Thợ Cạo ) 

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015

DƯ ÂM CỦA LỄ MÍT TINH DIỄU BINH 2/9 TẠI HÀ NỘI

Mõ có người bạn chí thân, gốc Bắc, vô làm ăn ở MN và SG sau ngày 30/4/1975 . Họ vốn là những nông dân cần cù trên đồng ruông châu thổ sông Hồng nhưng quanh năm vẫn thiếu thốn...Nhưng nay thì đã khác xưa một trời một vực . Khi tôi gửi người bạn ấy lời chúc "vui vẻ nhân ngày QK 2/9 " thì bạn ấy gửi ngay 1 tin nhắn đáp trả " Với tôi, không có khái niệm ngày Quốc khánh !" Mõ tôi quả thật "đắng lòng", nhưng biết nói sao nữa !  Mỗi người một cách nhìn, cánh đánh giá lịch sử. Thời đại IT đừng hòng mà bắt người nào cũng phải nghĩ cũng phải tin theo một lối mòn ! Vì thế, nên Mõ hồ hởi ( tất nhiên từ MN xa xôi hướng về HN) hướng về Ba Đình lịch sử, cùng sục sôi hát theo bài ca 19/8 và Vừng đông đã hửng sáng theo nhịp bước của các khối quân đội diễu hành trên màn ảnh nhỏ, thì cũng có những người mang tâm trạng như anh bạn PV đài Truyền hình Úc ACB dưới đây . Chỉ có điều buồn, là báo chí ta lại hiểu sai thâm ý của tác giả , "bốc thơm" rất chi là "ngây thơ" ....

NGÂY THƠ

Nguyễn Tuấn

Sáng nay đọc một bản tin trên vtc.vn, "Báo Australia: 'Gộp hết lễ hội lớn của Úc cũng không bằng diễu binh 2/9 ở Việt Nam'" (1) mà thấy có cái gì ngây thơ trong bài báo. Bài báo trích dẫn nhận xét của kí giả Úc Phillip Adams của đài truyền hình ABC, trong đó có câu trên, hàm ý nói rằng báo chí quốc tế như Úc khen buổi diễu hành ngày 2/9. Nhưng tôi sợ là nhà báo đã hiểu sai, vì đọc nguyên bản bài viết của kí giả Adams thì câu đó là một cách nói xỏ xiên, mỉa mai.
Nguyên văn tiếng Anh của bài "Resplendent, colourful, fantastic: Phillip Adams on Vietnam's independence celebrations" (2). Trong bài viết dài (bản dịch dưới đây của Lê Quốc Tuấn), Phillip Adams nhận xét rằng trong các chế độ cộng sản, người ta thích phô trương, và diễu hành là một hình thức như thế. Adams còn nhắc đến Hitler như là một đạo diễn tuyệt vời về những màn diễu hành. Trong một đoạn gần cuối bài viết, có câu độc: "nếu bạn gom hết các cuộc tuần hành và các đám rước ở Úc, cộng luôn những người đã tham gia vào Mardi Gras ở đường Oxford hoặc Moomba ở Melbourne, hoặc các lễ hội Thế vận hội ở Sydney, hay những lễ lạc ăn mừng sau một trận đấu bóng đá, bạn sẽ vẫn không có được một sự kiện lớn mà tôi vừa chứng kiến." Lễ hội Mardi Gras là dành cho người đồng tính, rất màu mè, phường tuồng. Do đó, đặt câu đó trong văn cảnh, đó không phải là một lời khen, mà là một cách nói mỉa mai.
Người phương Tây có nhiều cách xỏ xiên và mỉa mai rất thâm thuý, mà nếu không am hiểu tiếng Anh thì tưởng rằng họ khen! Cũng giống như mấy ông giáo sư Tây khi đến Việt Nam khen y tế Việt Nam rất tuyệt vời làm cho các quan chức y tế và bác sĩ nở mũi, nhưng họ không biết đó là những cách nói mỉa mai – mỉa mai bằng cách khen.
Viết về buổi diễu hành 2/9 tôi nghĩ khó có ai có nhận xét ngắn gọn, hay mà sâu sắc như Huy Đức, khi anh viết " Cờ - đèn - kèn - trống chỉ có giá trị sân khấu. Tự do của dân chúng mới là tượng đài vững bền. Tượng đài độc lập" (3).

====
(1) http://vtc.vn/bao-australia-gop-het-le-hoi-lon-cua-uc-cung-…
(2) http://www.abc.net.au/…/phillip-adams-vietnam-celeb…/6742830
(3) https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/864631136905402?fref=nf
 
Bản dịch bài báo trên ABC của Lê Quốc Tuấn:
6 giờ sáng, cả thành phố hầu như trong tình trạng nội bất xuất ngoại bất nhập phía dưới toà nhà bằng đá chứa thi thể Hồ Chí Minh dáng lù lù đe doạ tại Quảng trường Ba Đình nơi ông tuyên bố một nước Việt Nam độc lập vào năm 1945.Tất nhiên, nói độc lập như thế là cực kỳ lạc quan. Bởi vì Việt Nam sẽ không đạt được tự do đích thực, trừ khi, tính đến những thời điểm rất gần đây, chế độ hiện hành có thể được mô tả là một chế độ tự do. Kể từ ngày tuyên bố độc lập ấy, hết đợt này đến đợt khác của những cuộc chiến tranh xâm lược đã diễn ra. Hôm nay, người dân ăn mừng chiến thắng của mình.
Nhiều tháng trời diễn tập đã mang lại những gì chúng ta chứng kiến ngày hôm nay, và các chi phí tốn kém chắc chắn phải khiến có người lo ngại về ngân sách. Chúng tôi đã được thầm mách bảo cho biết rằng khi nhìn thấy đội dân tộc thiểu số, một trong 54 sắc dân như thế ở Việt Nam, diễn hành trong trang phục màu sắc đa dạng của họ, sự thực chỉ là những người dân địa phương Hà Nội, đóng bộ lên mà thôi. Hoá ra, ngay cả trong dịp trọng đại này, cũng phải xem lại cách chi tiền của chính phủ.
Hiện chúng tôi đang dồn trong khu vực của các nhà báo, nhìn sự kiện trước mặt qua các chân máy quay phim chụp ảnh. Không nhiều người nước ngoài lắm. Có một đoàn quay phim từ NHK bên cạnh chúng tôi, và tất cả mọi người đang chụp ảnh tôi khi tôi tường thuật, đại đa số phóng viên truyền thông chung quanh là người địa phương.
Đến lúc chủ tịch nước đọc diễn văn. Chúng tôi có văn bản ở ngay trước mặt: đó một bài phát biểu điển hình nói về cuộc đấu tranh lâu dài dành độc lập, tự do từ nước ngoài và các tầng lớp phong kiến, và một biểu hiện lạc quan lớn lao về văn hoá, chính trị. Và sẽ được bắt đầu bằng bài quốc ca, theo sau là 21 phát đại bác mà tôi phải đau khổ đứng chào.
Đó là một truyền thống của người cộng sản. Tôi cho rằng hai sự kiện hoành tráng nhất trong những ngày này là các lễ khai mạc thể thao Olympic và các cuộc diễu hành quân sự như thế này.
Tôi đã được cho biết là sẽ được xem một cuộc diễn hành kỷ niệm 70 năm thậm chí còn vĩ đại hơn cả Bắc Kinh, và dường như ở Bắc Triều Tiên thì cứ hai ngày lại có một cuộc diễn hành loại này. Nhưng không khí ở đây rất thoải mái; đó không khí hạnh phúc. Đông người lắm, nét mặt ai cũng ngời sáng vẻ vui sướng, chờ đợi cuộc diễu hành, không phải để sóng bước theo mà chỉ xem.
Người ta ước tính rằng có thể đến tám triệu người Việt thuộc về đồng phục của một tổ chức này hay tỗ chức khác. Thành thử không khó để tổ chức một cuộc diễn hành lớn, với số lượng quân đội, không quân, hải quân đông đảo, vì tất cả đều có số đông đáng kể.Nhưng cũng có những chiếc xe hoa, các nhóm cựu chiến binh, công nhân, nông dân, doanh nhân, người lao động, thanh niên, phụ nữ, dân tộc thiểu số (bằng những người dân địa phương đóng giả). Khi đi ngang qua các quan chức cấp cao, họ đều hô vang những âm thanh như “ho ho ho”.
Nhóm mà chúng tôi thực sự mong muốn được nhìn thấy là nhóm trí thức, nhưng chúng tôi đã không thể tìm thấy họ. Có lẽ họ đi lang thang lẫn lộn trong đám đông chăng ? Bạn biết những trí thức không chịu vào phép ra sao rồi – họ là những người khó có thể phối hợp với nhau.
Nếu muốn có những đại quân đoàn diễn hành, bạn có thể không qua mặt được Nuremburg. Hitler là một biên đạo múa tuyệt vời hoặc chắc chắn đã có những người vũ đạo giỏi – nhưng tất nhiên những cuộc diễu hành quân sự vĩ đại đạt đến sự tôn kính tại Quảng trường Đỏ ở Moscow, nơi các quan chức đảng trong quá khứ, kể cả Stalin, có thể đứng trên đỉnh lăng mộ của Lenin để xem các tên lửa khổng lồ và Hồng quân diễn hành. Trong những năm qua, những người xung quanh Stalin, từng người một đã bị tẩy xóa, biến mất, thanh lọc, gửi đến các trại tập trung.Khôngcó cảm giác về một thảm kịch ấy ở đây. Đây là một nơi rất tự tin và thanh thản một cách hợp lý. Họ không đứng trên đỉnh lăng mộ của Hồ mà tụ tập ở bên dưới.
Hôm nào tôi sẽ đến thăm ông. Tôi lo là ông có thể không có trong thành phố vì cứ hai tháng mỗi năm, cơ thể của Hồ Chí Minh được đưa đến lăng mộ của Lenin: không phải là một chuyến thăm chính thức nhưng để ông có thể được chăm sóc bởi các tay ngâm dấm chuyên nghiệp. Tôi hy vọng họ sẽ làm một công việc tốt cho Hồ hơn là đã phục vụ cho Lenin, vì đã có một thời điểm rất nổi tiếng vào những năm 1920 khi mũi của Lenin bị rụng xuống. Tôi biết rằng cái xác Lenin mà họ kiểm tra hiện giờ gần như hoàn toàn bằng sáp, và tôi thật không muốn phải nghĩ rằng xác ướp Hồ đã chỉ trở thành một hình nộm của bà Tussaud.
Sẽ có những người dân địa phương xếp hàng dài đến thăm Hồ, và thái độ của họ đối với ông ta là vừa thương vừa oán ghét. Với người ưa thích, ông được cực kỳ ngưỡng mộ như một người chỉ huy, một lãnh tụ cách mạng. Với những người khác, có một số oán hận do ông từng cưỡng bức áp dụng các trang trại nông trường tập thể theo mô hình Mao Trạch Đông, người làm theo tấm gương của Stalin, khiến đã dẫn đến nạn đói khủng khiếp ở Việt Nam. Nhưng nói chung, ngay những người phê bình ông Hồ cũng thừa nhận là ông ở trong một tình hình chính trị không thể làm theo ý mình.
Sự sùng bái cá nhân ở đây không giống như những gì xung quanh Lenin trong thời kỳ Xô viết, nơi bạn không thể đi bộ quá một sải mà không đụng ngay một bức tượng khổng lồ của Vladimir Illich, nơi mỗi tòa nhà có một hình nộm, mỗi đồng xu và tiền giấy toàn hình Lenin, Lenin và Lenin.
Ở đây, cho đến nay chúng tôi chỉ phát hiện ra hai bức tượng một ở Sài Gòn và một ở Hà Nội. Trong cuộc diễu hành hôm nay có vô số hình ảnh (ông Hồ), nhưng chỉ thực hiện trên những băng-rôn mỏng manh và sẽ được cất đi cho các dịp lễ tiếp theo. Vì vậy, dấu ấn của Hồ không phải là áp chế lắm.
Mục đích của lễ kỷ niệm là để cho thấy sự thống nhất, để chứng minh rằng cái xã hội rất phức tạp này với các dân tộc thiểu số và những khác biệt trong khu vực thực tế hiện nay là một quốc gia thống nhất. Vì mục đích ấy, không chỉ những ai thuộc về một lực lượng vũ trang, bất cứ ai có một bộ đồng phục đều được khuyến khích tham gia diễn hành. Chúng tôi đã rất ấn tượng chẳng hạn như với cuộc diễn hành của các đội cứu hỏa.
Tôi tự hỏi liệu có sẽ thấy một phản đề của những bộ đồng phục – màu đen đơn giản nổi tiếng từng được những người Việt Cộng mặc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Và rồi, cuối cùng đã có xuất hiện những bộ đồ ngủ màu đen. Nhưng lại không đại diện cho VC, mà đại diện cho người nông dân. Và điều đó nhắc nhở chúng ta rằng cơ sở của một cuộc chiến tranh du kích là những người lính từ tập thể nhà nông và đã từng khiến một quân đội có tổ chức gần như không thể đánh bại được họ.
Bài phát biểu của chủ tịch nước là một nỗ lực lập lại nguyên văn những cụm từ chuẩn mực, nhắc đến các anh hùng dân tộc, nhưng cũng có một chút công bằng của sự tự phê bình, rằng vẫn còn tham nhũng và thiếu đạo đức trong các thành viên hàng đầu của đảng. Vì vậy, chủ tịch nói về sự cần thiết phải liên tục đổi mới và tái tạo sinh khí cho đảng. Tôi hy vọng điều đó không dẫn họ đến việc sao chép cách mạng.
Tôi đã không thể không tự hỏi tướng Giáp sẽ cảm nhận ra sao được khi biết được rằng thành phố mà ông đã chiến đấu để dành được, hiện đã bị một viên đại tá cấp dưới từ miền nam nước Mỹ, Đại tá Sanders KFC (Gà chiên Kentucky) chiếm đoạt mất: một trong rất nhiều biểu tượng của nên kinh tế hỗn hợp, của thực tế rằng nơi đây bây giờ, giống như nhiều nơi của Trung Quốc, là một sự pha trộn của thị trường tự do và trung ương kiểm soát.
Không phải ai cũng xem diễn hành, một tỷ lệ lớn dân số vẫn buôn bán nơi các cửa hàng của họ, hay trên những quầy hàng nhỏ bé trên đường phố, hoặc chỉ đơn giản là đi mua sắm. Tôi có một cảm giác rằng nhiều người trong số họ đã chứng kiến quá nhiều những cuộc diễn hành như thế trong đời mình và đã dành thời gian của mình cho những cái gì hay hơn.
Tóm lại, nếu bạn gom tất cả các cuộc tuần hành và đám rước ở Úc, gom tất cả những người đã tham gia vào Mardi Gras ở đường Oxford hoặc Moomba ở Melbourne, hoặc những đám đông tham dự Thế vận hội Sydney, hay những đám đông vui mừng sau một trận đấu bóng đá, bạn sẽ vẫn không có được một sự kiện quy mô mà tôi vừa chứng kiến.
Hôm nay là một ngày nóng ẩm tiêu biểu trong năm, người diễn hành mệt mỏi kiệt sức, ướt đẫm mồ hôi dưới các trang phục rực rỡ của mình – còn người đứng xem thì cũng hết hơi mệt xỉu.


Các hãng tin, tờ báo lớn của nước ngoài như AFP, Channel News Asia, ABC News, DPA, đồng loạt đưa tin, đăng ảnh về cuộc diễu binh, diễu hành
vtc.vn|Bởi VTC News

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Tướng Vĩnh được trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, nhưng ...

trễ một năm và không kèn không trống.

Lão thần cách mệnh như cụ Vĩnh, giờ còn sống để nhận huy hiệu 75 tuổi đảng không còn được mấy người, lẽ ra người trao chí ít là Bí thư Thành ủy. Ở đây là cấp quận tổ chức trao, không báo nào đăng, không nói ra thì ai cũng hiểu là ...không bình thường ! 
____________

Đảng viên lão thành Nguyễn Trọng Vĩnh: 
Vài cảm nghĩ khi được trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng
( Nguyễn Đăng Quang )

Buổi lễ trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho cụ Nguyễn Trọng Vĩnh được Quận ủy Đống Đa tổ chức tại nhà riêng của cụ vào sáng ngày 1/9/2015. Khi nhận huy hiệu, cụ phát biểu ngắn gọn như sau: “Tôi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Những đảng viên cộng sản như tôi hồi đó là đối tượng khủng bố, ruồng bắt của Nhà nước thực dân Pháp. Tuổi Đảng của tôi năm nay là 76 chứ không phải là 75. Việc trao tặng này lẽ ra phải thực hiện từ năm ngoái chứ không phải để sang năm nay. Nhưng dù sao tôi cũng xin cám ơn các đồng chí, và qua các đồng chí cho tôi gửi lời cám ơn lãnh đạo Đảng cấp trên.”

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh chiều 1/9/2015. Ảnh: Lâm Khang

Đảng viên lão thành Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 9/1939. Tháng 6/1940 cụ bị thực dân Pháp bắt và kết án 5 năm tù khổ sai. Sau khi ra tù, cụ bắt liên lạc ngay với tổ chức và được Đảng giao trọng trách làm Bí thư Tỉnh ủy Phúc Yên rồi Thái Bình. Tháng 3/1947, Trung ương điều cụ vào quân đội làm Chính ủy kiêm Bí thư Khu 1 do đồng chí Chu Văn Tấn làm Khu trưởng. Từ năm 1948 cho đến 1959, cụ được Trung ương điều về làm Cục trưởng Cục Tổ chức đầu tiên của Tổng Cục Chính trị QĐNDVN do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm. Năm 1959 cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tấn phong quân hàm Thiếu tướng và được cử làm Chính ủy Quân khu IV. (Hiện lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh là vị Tướng duy nhất trong số trên 30 sỹ quan cấp tướng do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh tấn phong vẫn còn sống!). Tại Đại hội lần thứ ba Đảng Lao động Việt Nam tháng 9/1960, cụ được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTW Đảng khóa III (1960-1976). Giữa năm 1961, Trung ương điều cụ làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Ba năm sau (1964), cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến cử làm Trưởng đoàn cố vấn giúp Đảng bạn Lào. Sau hơn 9 năm công tác giúp bạn Lào, về nước chưa được bao lâu thì cụ lại được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Trung Quốc. Cụ cũng không ngờ nhiệm kỳ Đại sứ của cụ tại Trung Quốc kéo dài ngoài dự tính: trên 13 năm, gấp hơn 4 lần nhiệm kỳ thông thường của một đại sứ! Không chỉ vậy, thời gian hơn 13 năm cụ làm Đại sứ ở Bắc Kinh là thời gian quan hệ Trung - Việt rất căng thẳng và trở nên xấu nhất do việc Đặng Tiểu Bình xua 60 vạn quân sang xâm lược 6 tỉnh biên giới nước ta hồi tháng 2/1979! Mãi cuối năm 1987 cụ mới được rút về nước, và 3 năm sau cụ mới chính thức được nghỉ hưu ở tuổi 75!

Trong suốt hơn nửa thế kỷ tham gia hoạt động cách mạng và đảm đương nhiều cương vị khác nhau của Đảng và Nhà nước, ở cương vị công tác nào, đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh cũng luôn luôn tận tụy và gương mẫu hoàn thành mọi trọng trách được giao, đặc biệt là cụ luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết, và chưa bao giờ vi phạm kỷ luật dù chỉ ở hình thức nhẹ nhất! Cụ thực sự là tài sản quý đối với các con, cháu, chắt trong gia đình mà còn là tấm gương sáng cho đội ngũ lãnh đạo ĐCSVN hiện nay! Sau khi nghỉ hưu, đặc biệt là trong vòng hơn 10 năm (từ 2001 đến 2012), trước sự xuống cấp về mọi mặt trong đội ngũ lãnh đạo Đảng, đã gần 20 lần cụ viết thư tay gửi trực tiếp cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và cả cho Tổng Bí thư góp ý phê bình và chỉ ra những sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Nhưng thật đáng tiếc, cụ không hề nhận được hồi âm của bất cứ một vị nào có trách nhiệm của Đảng và Chính phủ cả! Trước tình hình như vậy, cụ đi đến quyết định chuyển hướng góp ý, xây dựng bằng các hình thức khác:

- Tháng 4/2013, cụ là một trong 72 người đầu tiên gồm các nhân sỹ trí thức và lão thành cách mạng ký tên vào Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp.

- Tháng 7/2014, cụ cùng 61 đảng viên kỳ cựu và tâm huyết ký Thư ngỏ (gọi tắt là TN 61) gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Tháng 9/2014, cụ cùng 20 sỹ quan cao cấp của QĐNDVN và CANDVN ký Kiến nghị (gọi tắt là KN 20) gửi Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ.

Sau khi 3 kiến nghị trên gửi đi và không nhận được hồi âm nào của các cơ quan chức năng, toàn văn nội dung 3 văn kiện này được công bố trên mạng Internet để toàn dân biết.

Có lẽ chính hình thức đấu tranh, góp ý mới này buộc Đảng phải xuất hiện. Sự xuất hiện này hoàn toàn không phải là cầu thị, là để lắng nghe hay tiếp thu, sửa chữa mà ngược lại là để rung dọa, răn đe! Cụ Vĩnh là một trong nhiều trường hợp bị các cấp ủy “nắn gân,sờ gáy”! Sau khi TN 61 được gửi đi, cụ Vĩnh và những đảng viên cùng ký tên hy vọng sẽ nhận hồi âm từ nơi nhận, nhưng chỉ là một sự im lặng lạnh lẽo! Song thật bất ngờ, chiều 19/11/2014, Đảng bộ Hà Nội đường đột cử Phái đoàn Ủy ban Kiểm tra Thành ủy đến hỏi thăm “sức khỏe” cụ Vĩnh. Mục đích cuộc viếng thăm này được ông Trưởng đoàn đồng thời là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy không hề giấu diếm: Sau khi chào hỏi xã giao, ông đi thẳng vào chuyện là việc cụ ký và gửi TN 61 cho BCHTW và toàn thể đảng viên ĐCSVN. Đoàn cho rằng cụ đã vi phạm vào Điều 1 và Điều 2 trong “Quy định 19 điều Đảng viên không được làm” (gọi tắt là 19 điều cấm). Đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh đã nhẹ nhàng bác bỏ. Cụ nói việc cụ ký và gửi TN 61 đến BCHTW và toàn thể đảng viên ĐCSVN là không hề vi phạm bất cứ điều nào trong “19 điều cấm”. Cụ phản bác “19 điều cấm” không chỉ sai mà ngay cả một số quy định mới đây của Đảng cũng vi phạm ngay chính Điều lệ Đảng, ví dụ như Quy chế về bầu cử trong Đảng (tức QĐ số 224/QĐ/TƯ ngày 9/6/2014 vừa qua). Cụ nói: “Nội dung và các kiến nghị của TN61 thì BCHTW Đảng đã có kết luận sai trái gì đâu mà Thành ủy Hà Nội lại kết luận như vậy? Không một cá nhân và cấp ủy nào có quyền tùy tiện kết luận TN 61 là sai hoặc vi phạm kỷ luật Đảng. Phải đợi ý kiến kết luận của Trung ương chứ!”. Trở lại mục đích của Phái đoàn UBKT Thành ủy là yêu cầu cụ tuyên bố rút tên và chữ ký trong TN 61 để Đảng sớm trao Huy hiệu 75 năm cho cụ, đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh khẳng khái nói: “Tôi đã 75 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng. Việc trao hay không trao huy hiệu cho tôi thì tuổi Đảng của tôi vẫn là 75, chẳng ai cho thêm và cũng chẳng ai có quyền bớt đi tuổi nào. Mọi người đều rõ điều đó! Tôi chưa hề bị kỷ luật nên việc trao huy hiệu 75 năm cho tôi là việc bình thường; điều này chỉ có lợi và tốt cho Đảng, còn nếu không thì chỉ xấu và bất lợi cho Đảng! Song nếu vin vào cớ tôi ký vào TN 61 mà kỷ luật, không trao huy hiệu hoặc thậm chí khai trừ tôi thì tôi xin nói thẳng với các anh là tôi sẽ không để cho ai làm điều đó đâu! Trong trường hợp như vậy, tôi xin nói rõ là tôi sẽ công bố điều mà tôi đã trăn trở suy nghĩ nhiều năm nay trước khi các anh làm điều đó!”. Mỗi lần nhắc đến việc này, cụ nói với tôi là cụ rất muốn quên đi, coi như nó không hề có, và cụ không muốn ai, kể cả con cháu trong nhà, nhắc đến nó nữa! Không rõ có phải sau “biến cố” này mà cụ thay đổi Di chúc, đi đến quyết định là khi từ giã thế gian này, cụ sẽ không chọn Nghĩa trang Mai Dịch để “định cư” mà sẽ đến với Đài hóa thân Hoàn Vũ như nhiều cụ ông, cụ bà ở Hà Nội đã để lại di nguyện cho con cháu trước khi ra đi!

Nhưng rồi, trong gần một năm qua, có hai sự kiện liên quan đến việc trao tặng Huy hiệu 75 năm cho cụ mà tôi biết được như sau: Việc thứ nhất là chính tôi nghe trực tiếp từ hai đồng chí Bí thư và Phó bí thư Chi bộ 14 phường Kim Liên là nơi cụ Vĩnh sinh hoạt. Hai đồng chí cho biết: Sau khi Chi bộ 14 biết cụ Vĩnh bị gây khó khăn trong việc nhận Huy hiệu 75 năm, Chi bộ đã họp hai buổi để bàn và ra Nghị quyết về việc này. Cả hai lần Nghị quyết đều có sự tán thành 100% của số đảng viên chi bộ có mặt (Chi bộ 14 có trên 80 đảng viên thì có gần 40 đảng viên là Giáo sư, Tiến sỹ và cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu). Tất cả đều nhất trí kiến nghị lên Đảng bộ Phường, Đảng bộ Quận và Đảng bộ Thành phố phải trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho lão đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh. Hai đ/c cho biết Chi bộ 14 sau đó bị Đảng ủy cấp trên phê phán là vô nguyên tắc vì đã đưa kiến nghị vượt cấp! Nhưng chính họ không hiểu hoặc đã cố tình vi phạm quy định của Đảng là phải trả lời bằng văn bản các kiến nghị của cấp dưới, song họ cố ý lờ đi, buộc Chi bộ 14 phải gửi lên cấp trên tiếp theo, và Chi bộ 14 dự kiến sẽ gửi tiếp kiến nghị này lên Trung ương Đảng nếu Thành ủy Hà Nội cố tình không trao Huy hiệu 75 năm cho lão đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh!




Câu chuyện “người thực, việc thực” trên đây của Chi bộ 14 phường Kim Liên để lại trong tôi nhiều suy nghĩ. Tôi ước ao chỉ cần 50% số Chi bộ và Đảng viên của Đảng ta trên toàn quốc được như Chi bộ 14 và các đảng viên của Chi bộ này thì Đảng ta sẽ lột xác, thực sự sẽ trong sạch, vững mạnh; không cần phải phát động phong trào này, phong trào kia, tiêu phí biết bao tiền thuế của nhân dân!

Còn chuyện thứ hai là do chính cụ Vĩnh kể lại cho tôi và một vài người nữa ngay sau buổi trao tặng huy hiệu sáng qua. Cụ cho biết cách đây vài tháng có một người đến nhà xin gặp cụ và tự giới thiệu là cán bộ của Thành ủy Hà Nội. Anh ta đề nghị cụ “viết đơn gửi Thành ủy để xin nhận Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng”. Cụ nói: “Tôi thật sự ngỡ ngàng và điên tiết, liền trả lời ngay “Anh về nói với cấp trên của anh là tôi không vi phạm gì, việc trao hay không trao là tùy Thành ủy. Còn yêu cầu tôi viết đơn, xin trả lời thẳng là không bao giờ tôi viết đơn xin xỏ ai việc gì cả, và anh đừng có trở lại đây để yêu cầu tôi làm cái việc xấu xa đó nữa!””. Anh ta lủi thủi ra về và không dám quay trở lại! Cụ thở dài ngao ngán: “Họ hành người dân bằng cơ chế “xin-cho” chưa đủ sao mà bây giờ họ còn định hành một ông già 100 tuổi đời và 76 tuổi Đảng như tôi! Không rõ họ làm thế để nhằm mục đích gì đây?”.

Khi khách đã ra về hết, chỉ còn lại tôi và vợ chồng con gái trưởng của cụ là nhà văn Nguyên Bình và Đại tá Trịnh Văn Trà, cụ tâm sự: Cụ sẽ cố sống thêm vài năm nữa để chờ chứng kiến sự thay đổi của đất nước! Cụ vẫn day dứt: Đảng ta cần trở lại tên cũ là Đảng Lao động Việt Nam như Bác Hồ đã chọn hồi năm 1951! Năm 1976, nếu Bộ Chính trị lúc đó hỏi ý kiến toàn Đảng thì cụ tin rằng tuyệt đại đa số đảng viên không muốn đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam mà muốn giữ lại tên cũ là Đảng Lao động Việt Nam. Cụ cho biết cụ đang nung nấu suy nghĩ là sẽ kiến nghị Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đổi lại tên Đảng và Quốc hiệu nước ta. Đảng cần trở lại tên cũ là Đảng Lao động Việt Nam. Nước lấy lại quốc hiệu cũ là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” hoặc đổi thành quốc hiệu “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam”! Theo cụ, có như vậy mới phát huy được sức mạnh toàn dân tộc và yếu tố đoàn kết của toàn dân, đúng theo tinh thần và ước vọng của Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời!

Tôi trộm nghĩ có lẽ đây không chỉ là ý kiến của riêng lão tướng đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh đáng kính mà còn là mong muốn và nguyện vọng của đa số cán bộ đảng viên và nhân dân ta hiện nay!

Hà Nội, chiều Quốc khánh 2/9/2015.
N.Đ.Q.
___________

Buổi chiều 1/9/2015, Ông Phạm Quang Nghị, Bí thư thành ủy Hà Nội phái người đến nhà tặng hoa và trao cho Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh một bức thư chúc mừng.


Nguồn: Xuandienhannom

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ DUYỆT BINH 70 NĂM ĐỘC LẬP

 Nguyễn Ngọc Hùng
Ảnh sưu tầm trên mạng

 Trên trung tâm lễ đài

Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Văn Tuấn dẫn đầu đoàn diễu binh - Ảnh: Việt Dũng
Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Văn Tuấn dẫn đầu đoàn diễu binh - Ảnh: Việt Dũng
Khối sĩ quan lục quân diễu binh - Ảnh: VIiệt Dũng
Khối sĩ quan lục quân diễu binh 
Ảnh: Việt Dũng

 
Khối sĩ quan thông tin liên lạc - Ảnh: Việt Dũng
Khối sĩ quan thông tin liên lạc 
Ảnh: Việt Dũng

Ảnh: Việt Dũng
Khồi Sĩ quan Hải Quân
Tôi đã dành trọn buổi sáng sớm hôm nay để theo dõi đại lễ kỷ niệm 70 năm độc lập tại Ba Đình, Hà Nội.
Thật mừng vì thời tiết hiền hòa, đất trời dịu mát; đỡ bớt phần chịu đựng của hàng vạn người tham gia diễu binh, diễu hành và đứng làm phông trên quảng trường. Đúng là thiên thời, địa lợi, nhân hòa với ngày Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập và khai sinh nền DÂN CHỦ CỘNG HÒA cho nước Việt Nam cách nay 70 năm.
Điều đầu tiên khiến tôi chú ý của Đại lễ năm nay là dọng miền Nam chiếm vị trí khá chủ đạo. Điều khiển chương trình là ông thứ trưởng bộ Văn Hóa... với dọng đọc gần giống như dọng ông Nguyễn Tấn Dũng. Rồi diễn văn chính thức do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trình bày.
Diễn văn của Chủ tịch nước không đến nỗi quá dài (gần 20 phút), nhưng phần giới thiệu quan khách trước đó thì mất gần... 10 phút! Các vị có tên và chức danh được giới thiệu gồm cả đương chức và “nguyên”, gồm từ Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng, đến Chủ tịch Mặt trận là hết. Thêm 1 ông ủy viên BCT là Phạm Quang Nghị. Chẳng biết ông Nghị này khác gì các ủy viên BCT còn lại mà được giới thiệu?
Khi Chủ tịch nước đọc diễn văn, ống kính truyền hình trực tiếp không thể tránh nổi cảnh đại tướng Phạm Văn Trà và nguyên ủy viên BCT Vũ Oanh (dứng ngay phia sau ông Sang) liên tục... ngủ gật!
Phần diễu binh lần này gồm nhiều khối hơn trước đây. Riêng Đặc công cũng có mấy loại khác nhau. Trước đây, chỉ có khối trường sĩ quan nói chung. Nay phân loại rõ ràng: sĩ quan tham mưu, sĩ quan chính trị, sĩ quan các quân binh chủng nhiều loại. Rồi thêm “đổ bộ đường không”, “hải quân đánh bộ”, “cảnh sát biển”...
Có điều chỉnh cách đi: Khi qua lễ đài, hàng quân không phải thực hiện động tác đi nghiêm cả chân và tay như trước. Nay chỉ thấy chân vẫn thẳng băng, nhưng tay thì vung đều, không khép cứng bên hông như trước.
Các khối nữ như bộ đội thông tin, cảnh sát giao thông trông cứ như đội hình... người mẫu. Toàn chân dài, nghiêm trang nhưng tươi tỉnh rạng rỡ lắm.
Khối Công an cũng đông đảo hơn trước. Chỉ riêng khối Cảnh sát cơ động là khiến tôi thấy... thế nào ấy! Sát khí đằng đằng, tay trái cầm khiên, tay phải vung dùi cui điện. Lực lượng này để chống ai???
Có lẽ tất cả các quân nhân tham gia diễu binh đều đeo ít nhất 2-3 huân chương, trong khi các khối học viên sĩ quan chỉ toàn quân hàm “trơn”. Họ đã làm gì đâu mà có huân chương nhỉ? Còn các khối sĩ quan thì toàn thấy quân hàm thiếu tá trên vai của những quân nhân trẻ măng! Đi đầu khối nữ CSGT là một thượng tá rất xinh và trẻ lắm! Không hiểu vì “diễn” hay quân hàm bây giờ rẻ quá?!
Nói chung, thế là Đại lễ đã thành công tốt đẹp đúng nghĩa rồi. Giá như có thêm các khối quân nhân hóa trang như các thời kỳ tiền khởi nghĩa, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh chống Mỹ nữa thì hoàn hảo hơn; bởi đây là quá trình 70 năm giữ nước mà./.














Mời xem clip


Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Tinh thần CM/8 và Quốc Khánh 2/9 bất diệt !


Xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất nhân dịp :

31 năm Dân chủ Cộng hoà 
+ 39 năm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
= 70 năm Quốc khánh Việt Nam !

ảnh chụp và lời chúc của cụ Xuân Hoài vừa gửi về Mõ Làng 
Chú thích : Ảnh chụp chiều 1/9 
( Tranh thủ dừng xe máy bấm vội, chỉ mấy phút sau là cấm đường ! )

Những gương mặt thân quen. Những nụ cười rạng rỡ ....

ảnh : Calathau Vũ Quang Trung 


Chị Minh Hà (K6) di chuyển phải dùng xe lăn nhưng ngày Họp mặt
như được truyền thêm năng lượng ( ảnh TKC cung cấp )

Con trai cả cụ Vũ đình Hòe (Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục CP Nhân Dân lâm thời )
Tặng hoa cám ơn con gái út cụ Trịnh văn Bô - Nhà tư sản HN hiến tặng CP Hồ Chí Minh hơn 5.000 lượng vàng để lo việc nước trong những ngày khó khăn sau CM/8/1945, nước VNDCCH ra đời.

Thầy Nguyễn đức Chính và 2 cựu HS trường QL Nguyễn văn Bé ( bìa trái )

Minh Ngọc (K5), Quỳnh Khanh (K1), Kỳ Nam (K3), Kim Tuyên (K6)

Các anh chị Lớp 6 ( Lớn nhất Trường )

Các "em" Lớp 1 và Lớp 2 

Các "em" Lớp 3 .










4 cụ cựu Thiếu Sinh Quân Việt Bắc

Mông Lệ Chung ( giữa ) - Nữ chỉ huy nhạc người dân tộc đầu tiên của VN

Nguyễn đình Lễ (áo nâu) và vợ