Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

NGÀY TẾT ĐỌC LẠI "DẤU VẾT KHẢO CỔ " của HOÀNG THẾ LONG ( Diachuoansai)

DẤU VẾ KHẢO CỔ
(Hoàng Thế Long - Bài sẽ in tuyển tập)

Hoàng Thế Long ( Diachuoansai)
Lời BT - Tháng 8 năm 2003, trong cuộc Hội thảo về Trường TNVN LS.QL.NN nhân kỉ niệm 50 năm thành lập Trường, Uỷ viên BCT TW ĐảngTrần Đình Hoan, trong tham luận của mình đã đánh giá: “Trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, và chúng ta có quyền tự hào coi đó là một mô hình giáo dục tốt cần phải được nghiên cứu học tập”. Chúng ta hiểu, đây không chỉ là cảm nghĩ của “bạn Hoan lớp 3 trường ta”, mà là đúc kết của nhiều cơ quan có trách nhiệm được gửi gắm vào lời phát biểu chính thức của Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng - đơn vị chính đã thành lập và quản lý Trường TNVN LS.QL theo chỉ thị của Bác Hồ. Giờ đây, sau hơn nửa thế kỷ, Thầy trò cùng trưởng thành và cùng có độ lùi để tự nhìn lại mình bằng con mắt tỉnh táo hơn. BĐH xin giới thiệu sau đây bài viết của blogger Diachuoansai (Thế Long) và coi như là một “đề dẫn” cho cuộc “hội thảo bỏ túi” trên Blog của K5. 
Nhân dịp vui đón Xuân Bính Thân chúng tôi đăng lại bài viết này của bạn Thế Long ( sau lần sửa cuối cùng gần đây của tác giả), rất mong các Thầy Cô, các bạn đóng góp ý kiến kể cả “phản biện”. 

***
Tôi đi tìm những dấu vết này không phải trong lòng đất, mà ở chính… trong tôi.
Cái từ “dấu vết” là do các con tôi đặt ra để chỉ những cung cách, thói quen của tôi từ thời xa xưa Thiếu sinh quân và Quế Lâm để lại.
Mấy chục năm sao lại gọi xa xưa? Lịch sử trái đất thì phải tính bằng nhiều triệu năm, nhân loại - ngàn năm, còn đời người ngắn ngủi, ta đều đã qua tuổi “xưa nay hiếm” và cũng có thể về với các bạn Văn Vũ, Tiến Nguyên… bất cứ lúc nào, thì thời ấy cũng là quá xa rồi.
Các nhà khảo cổ tìm những dấu vết còn lại để mô tả thời kỳ mà cá thể đó đã sống. Các chuyên gia tìm những dấu vết là triệu chứng trong quá khứ để chẩn đoán hồi cứu cho xác ướp trong mộ cổ. Tôi cũng cố tìm những dấu vết trong mình (chưa phải xác ướp) và những điểm tương đồng trong bạn bè Quế Lâm để hiểu hơn thời kỳ mà mình đã trải qua. Có thể gọi là khảo cổ hay chẩn đoán hồi cứu, gì cũng được.

Nét đặc trưng của thời kỳ đó đã được các bạn tôi mô tả trong nhiều hồi ký mà tôi tóm tắt bằng mấy chữ: “Trong sáng một chữ TÂM, sâu nặng một chữ TÌNH”. Đọc những trang Ngược dòng kí ức này càng thấy đậm nét hai chữ ấy. Hơn nữa chúng ta sinh ra từ một lò, đúc cùng bằng một khuôn. Mỗi người soi vào những người khác thì thấy chính mình trong đó, và cũng tin chắc rằng mỗi người đều mang nhiều nét của những người khác. Cũng cần xét đặc điểm môi trường khi đó - tốt về mặt tự nhiên, nhưng nhiều hạn chế về mặt xã hội - đã để lại những dấu ấn này. Đó là một môi trường biệt lập với xã hội xung quanh của khoảng một ngàn đứa trẻ trên dưới 10 tuổi chỉ tiếp xúc với nhau và với những người dạy và nuôi chúng, ngăn cách với xã hội bên ngoài bằng một bức tường (nghĩa đen) và rất ít tiếp xúc, lại không cùng ngôn ngữ.
Dấu vết thứ nhất: có một nền (background) toàn diện. Hầu hết học sinh khi đến Quế Lâm đều từng học ở vùng tự do. Không kể đến sự thiếu thốn mọi mặt, khó khăn chủ yếu khi đó là chương trình nghèo nàn về nội dung, không hề có sách giáo khoa (đến năm 1955 ngành Giáo dục mới có chương trình thống nhất giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm cũ và ra đời Nha xuất bản Giáo dục và sau đó mới có sách giáo khoa). Tại Quế Lâm chúng ta được học một chương trình tiên tiến và toàn diện, cơ bản giống chương trình phổ thông của Liên Xô và Trung Quốc khi ấy. Tài liệu dùng như sách giáo khoa được in roneo từng cuốn tại trường cho một số môn, một số môn khác thì in phát trước từng bài. Trong chúng tôi, mỗi người phát triển riêng từng mặt khác nhau, nhưng ở mỗi người, không chỉ có kiến thức văn hoá, mà còn nhiều thứ khác. Có những môn học chính khoá như thể dục, khiêu vũ, nhạc, hoạ. Tôi vẫn nhớ cách xướng âm và ký âm những bài đơn giản do thầy Nhân dạy, luật xa gần và pha mầu theo họ mầu do thầy Lợi dạy, và còn nhiều điều khác nữa là dấu vết do sự đào tạo và học hỏi lẫn nhau - những tài lẻ - từ những ngày ấy. Những năm về già các cụ bạn vẫn thể hiện các tài năng này qua những ‘hobby’ (thú vui), cả kỹ thuật lẫn nghệ thuật. Riêng tôi thì vui với thư pháp và chữ Hán.
Dấu vết thứ hai: Tinh thần trách nhiệm, tính tự lực, tháo vát. Cuộc sống xa nhà trong điều kiện sông tập thể ở Thiếu sinh quân và Quế Lâm đã tạo nên ý thức trách nhiệm với tập thể và những kỹ năng tự chăm sóc, sự tháo vát và cẩn thận từ những việc nhỏ. Đến nay nhìn lại thấy bạn bè Quế Lâm cua mình dù mức độ thành đạt khác nhau nhưng đều là những người tử tế. Đó chính là tinh thần trách nhiệm của mỗi người với chính mình và những người chung quanh. Những nếp sống và thối quen học được từ những ngày sống tập thể ở Thiếu sinh quân và Lư Sơn – Quế Lâm càng hữu ích trong những năm sơ tán do chiến tranh và vẫn còn đến ngày nay. Dấu vết này trong tôi đến nay là thích đi picnic gần và ‘phượt’ dài ngày hàng ngàn km trên 2 bánh xe. Đi không phải nhằm điểm đến, mà là những trải nghiệm trên đường ‘phượt’, dù cho đường sá và thời tiết có khi tệ hại vẫn cảm thấy thích thú không kém gì tiện nghi ở các resort. Đi để thử thách và cảm nhận, dùng những kỹ năng sống đã có để thích nghi với mọi hoàn cảnh. Địa bàn thích ‘phượt’ ưa thích của tôi là các tỉnh miền núi lắm dốc nhiều đèo.
Dấu vết thứ ba: Thích sống thành “bầy đàn”. Có 5 bậc nhu cầu của con người mà Abraham Maslow dã mô tả (1943) bàng một hình tháp. Từ bậc 1 thấp nhất giống như mọi động vật, mang tính ‘con’, đến bậc 5 cao nhất mang tính ‘người’, thì nhu cầu “bầy đàn” nằm ở bậc giữa – bậc 3. Đó là nhu cầu được giao lưu tình cảm, được ở trong một tập thể gần gũi, chia sẻ. Nhiều loài động vật chỉ tồn tại được cùng bầy đàn: nhiều loài chim, nhất là những loài chim di cư, ngựa vằn, trâu rừng ở Châu Phi, hải cẩu, cá trích… Chúng ta khi sống xa gia đình, lại từ tuổi còn nhỏ, bị cô lập khỏi xã hội bên ngoài, nên mỗi cá nhân đều gắn bó với tập thể. Thói quen ấy vẫn tiếp diễn cho đến sau khi rời trường và đến tận bây giờ như một tập tính lâu năm không thể bỏ của “bầy đàn” này. Đến nay tình bạn của chúng ta vẫn gắn bó và chân thành.
Ba dấu vết kể trên là tích cực. Nhưng hoàn cảnh sống và đào tạo khi ấy cũng để lại những dấu vết tiêu cực. Nhớ lại ngày ấy chúng ta đã được dặn dò không biết bao nhiêu lần là ‘Học để sau này phục vụ nhân dân’, và ‘Tuyệt đối tin tưởng …’  . và các thứ khác đại loại như thế. Bây giờ có nói với lớp trẻ thì chúng không thể nào hiểu nổi. Môi trường ấy đã để lại những dấu vết sau.
Dấu vết thứ tư: Tư duy thụ động. Đặc điểm này có lẽ không phải chỉ có ở chúng ta, mà ít nhiều ở cả thế hệ chúng ta. Nhưng ở chúng ta thì rõ nét hơn. Thời kỳ mà mọi điều được phổ biến ra là chân lý và mọi chuyện đều được Tổ chức “lập trình” cho. Số đi học đại học nước ngoài thì ngành nghề tương lai cũng không được lựa chọn mà theo phân công, tất cả mọi việc đều chỉ có chấp hành. Thế thì còn phải suy nghĩ gì nữa. Thắc mắc là không tốt! Bạn Quang Trung có bài thơ “Trường chúng mình” nói về cái “thời ấy”. Bài thơ có tính khái quát. Chỉ có 4/40 câu về trường, còn lại là về chúng mình. Trong bài thơ có đến 4 chỗ nhìn về thời ấy với những từ ‘chẳng ngờ’, ‘hay đâu’, ‘có hay đâu’, ‘nào có ngồ đâu’ với sự ngạc nhiên về nhận thức ngây thơ dễ thương, mà cũng đau đớn. Lần đầu đọc mấy câu “Hay đâu đất nước thôi bom đạn / Súng vẫn nổ sau lũy tre làng! / Trống vẫn giục, sân đình bốc lửa“ tôi đã thấy như vận vào hoàn cảnh nhà mình. Khi về thăm nhà hè năm 1957 thì gia đình vừa “trải qua một cuộc bể dâu“, nhưng còn cực khổ lắm. Tôi đã tự trách mình không những không cùng chia sẻ những nỗi khổ với mẹ và các em, mà còn cả không biết đến nữa. Đến năm mà mình sắp bước vào tuổi Bất hoặc chi niên (不惑之年) – tức truổi 40, tuổi không còn gì ngờ vực nữa (từ câu trong Luận Ngữ 論語: tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh 三十而立, 四十而不惑, 五十而知天命), thì cùng với cả nước “có ngờ đâu“ sau một đêm mà những đồng chí thân thiết trở thành những kẻ xâm lược. Sẽ không ngạc nhiên một cách đau xót với ‘có hay đâu’, ‘nào có ngồ đâu’ … nếu như được trang bị phương pháp tư duy tích cực. Ngày nay trong chương trình của học sinh trung học ở nước ngoài có môn học Critical thinking (Tư duy phê phán). Đó là khoa học về quá trình nhận thức tích cực, đánh giá, phân tích, tổng hợp, và vận dụng thông tin, từ đó dẫn đến niềm tin và hành đông.
Dấu vết thứ năm: Khả năng”miễn dịch” yếu với các căn bệnh xã hội. Nếu như dấu ấn thứ tư vừa nói ở trên là về nhận thức thì dấu ấn này là về hành động.  Về sinh học, khi được nuôi dưỡng trong điều kiên vô trùng, cơ thể không tạo ra được những “kháng thể” bảo vệ cần thiết nên sức đề kháng kém, dễ nhiễm các bệnh, phải điều trị khó khăn. Về mặt xã hội con người từ nhỏ cũng cần được từng bước tiếp xúc với sự đa dạng của cuộc sống. Đã là cha mẹ, nay còn là ông bà, chúng ta quá hiểu nguyên lý giáo dục này. Tuy nhiên có thể nói môi trường xã hội ở Lư Sơn – Quế Lâm thời ấy sạch sẽ quá, lại cách ly hoàn toàn với bên ngoài và rất ít những thông tin về cuộc sống trong nước. Từ cuộc sống vô tư, trong sáng ở Lư Sơn - Quế Lâm - Nam Ninh, một số về Chu Văn An thì lại là một “Quế Lâm - Nam Ninh” thu nhỏ, thời gian đầu các bạn lớp khác gọi bon này một cách thân thiện là ‘ngố Tầu’. Dấu vết “gà công nghiệp” có trong suốt chặng đường đi học và công tác. Khi bước ra cuộc đời với đủ mọi thử thách chưa kịp thích nghi. Kiểu phân biệt đúng – sai, thiện - ác của ta là rạch ròi như trắng – đen, kiểu truyện cổ tích. Nhưng trong cuộc sống thì rất nhiều cung bậc từ trắng đến đen, ngay cả trong cái trắng có đen và trong cái đen có trắng. Thời kỳ “Hậu Quế Lâm” của chúng ta diễn ra ở mỗi người một kiểu, khó khăn, thiệt thòi cũng nhiều, nhưng bản lĩnh Quế Lâm đã giúp ta vượt qua tất cả.
Tôi trở lại trường cũ Quế Lâm năm 2000 như những người Islam hành hương về thánh địa Mecca. Trong 4 ngày ở Quế Lâm, tôi đã hai lần trở lại trường. Một lần cùng với các bạn, một lần đi một mình, lang thang mọi chỗ cố tìm lại những ký ức xưa. Thành phố Quế Lâm lúc đó đang xây dựng lại. Những công trình có kiến trúc kiểu hộp diêm đơn điệu, nhàm chán theo “ГОСТ” (Tiêu chuẩn Nhà nước của Liên Xô) mà tôi thấy suốt từ Đông Berlin đến Vladivostok, từ Bắc Kinh đến các chung cư Kim Liên, Nguyên Công Trứ… ở Hà Nôi, đang được thay thế. Tôi đứng nhìn người ta tháo dỡ rạp chiếu phim “Giải Phóng” trên đường Giải Phóng, nơi có kỷ niệm một thời. Cảm nghĩ là những gì là “vật thể” tái tạo thì nhanh, còn những gì “phi vật thể” trong mình không dễ gì tu chỉnh. Chính vì thế còn lại những dấu vết đến hôm nay.
Kết thúc chuyến đào bới khảo cổ này, tôi muốn mượn hai câu cuối của bài thơ “Trường chúng mình” mà tôi tâm đắc: “Thôi, cứ để yên trong lồng ngực / Mãi một yêu thương, một dại khờ”.

4 nhận xét:

  1. Nguyễn Ngọc Hùng14:54, 02/02/2016

    Xin cám ơn anh Hoàng thế Long về những đúc kết mang tầm "phát minh" rất "khảo cổ" này. Tôi thuộc diện đàn em của các anh, đến Lư Sơn khi mới 7 tuổi, học Quế Lâm 4 năm và rời Nam Ninh giữa năm 1958. Với "cái đầu non nớt" như thế, không thể có những cảm nhận sâu sắc như các anh- chị khi sang TQ đã vượt qua tuổi lên mười. Nhưng tôi nhất trí với những "phát minh khảo cổ" của anh Long về những "dấu vết" cả tích cực và tiêu cực anh đã trình bày trong bài viết súc tích này.

    Trả lờiXóa
  2. NĂM MỚI BÍNH THÂN CHÚC BẠN VÀ GIA ĐÌNH LUÔN VUI TƯƠI HẠNH PHÚC VÀ GẬP NHIỀU MAY MẮN!

    Trả lờiXóa
  3. Một bài viết tưởng chừng như "tếu táo" nhưng lại rất nghiêm túc và khoa học. Thế Long vẫn giữ được phong cách của "1 nhà Khoa học tự do ". Tự nghiên cứu, tự đúc rút không hề bị sức ép từ thế lực nào. Thật đáng tiếc cho những tài năng, những bộ óc còn mẫn tiệp như thế này !

    Trả lờiXóa
  4. Cụ nên nêu phát hiện khảo cổ chuyến về cái chảo gang đựng than sưởi ấm ta mấy mùa lạnn ,bao kỷ niệm ấm cúng ,thế mà lại bỏ qua!Phí.

    Trả lờiXóa