Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

TRUNG QUỐC CHIẾM VĨNH VIỄN BIỂN ĐÔNG và LỰA CHON CỦA VIỆT NAM

Bùi Quang Vơn
(Tham khảo )

– Quyết tâm chiếm đoạt hoàn toàn biển Đông của Trung Quốc đã được khẳng định là âm mưu chiến lược có từ rất lâu, các hoạt động theo từng bước nằm trong kế hoạch được tính toán rất kỹ, được thực hiện vừa bằng một quyết tâm không thể lay chuyển vừa bằng mọi thủ đọan.
– Những đầu tư vũ trang, xây dựng các căn cứ, cơ sở hạ tầng quân sự không chỉ để phòng vệ, các đầu tư cơ sở hạ tầng trên các đảo chiếm đoạt trên thực địa, nhằm khẳng định và tăng cường khả năng khẳng định chủ quyền đã trở nên một thực tế không ai có thể đảo ngược bằng các biện pháp thông thường.
–  Chỉ chiến tranh mới giải quyết được tận gốc. Có nghĩa rằng trật tự có trước khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1958 chỉ có thể thiết lập lại bằng chiến thắng của mộc cuộc chiến tranh. Việt Nam không có khả năng đó. Người có khả năng thắng cuộc chiến này là Mỹ và liên minh của Mỹ với các quốc gia khác như Nhật, Australie, Ấn độ. Nhưng nước Mỹ sẽ không làm cuộc chiến tranh này, vì Mỹ sẽ chỉ chịu tiến hành chiến tranh khi chắc chắn đạt được các quyền lợi quốc gia, trong khi một cuộc chiến tranh với Trung Quốc sẽ tất yếu lôi cuốn toàn thế giới vào một cuộc chiến toàn cầu, điều mà Mỹ hay bất cứ quốc gia nào đều không muốn và không thể muốn.
Trung Quốc biết rõ điều đó, và cùng lúc với các thủ đoạn có tính chiến lược, việc tạo dựng một khả năng nhằm thoả mãn các quyền lợi của Mỹ tại thời điểm gay cấn nhất cũng được các nhà hoạch định chiến lược TQ đưa vào kế hoạch chuẩn bị, theo một lôgíc rất Trung Quốc là “những gì không đổi được bằng lợi ích, có thể đổi được bằng rất nhiều lợi ích”. Mỹ chỉ có quyền lợi duy nhất và cũng là tính chính danh duy nhất cho các hành vi can dự của Mỹ là tự do hàng hải. Sau khi chiếm đoạt hoàn toàn biển Đông, sau khi chủ quyền toàn bộ biển Đông được ngay cả Mỹ thừa nhận, thì tự do hàng hải trong khu vực biển đông sẽ được chính Trung Quốc bảo lãnh, thậm chí khuyến khích Mỹ và ưu tiên cao nhất cho Mỹ đi lại hoà bình trên khu vực này. Như vậy chiến tranh sẽ không có khả năng xảy ra. Nhất là một cuộc chiến chỉ nhằm giúp Việt Nam giành lại chủ quyền, là chuyện không tưởng.
– Mỹ không có khả năng ngăn chặn được sự bành trướng của Trung Quốc. Một thực tế từ hơn mười năm nay cho thấy tiến trình tiến tới xác lập hoàn toàn chủ quyền của Trung Quốc với toàn bộ biển Đông, bất chấp những hành vi gây khó khăn của Mỹ và áp lực thế giới, vẫn tiến đều từng bước là tiến trình không thể đảo ngược. Mỹ sẽ phải chấp nhận một thực tế TQ là một siêu cường với tư cách chia sẻ với Mỹ việc sắp đặt trật tự thế giới, ít nhất cũng tại khu vực biển Đông.
– Việt Nam phải chấp nhận từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa cũng như toàn bộ biển đông bên ngoài giới hạn cho phép theo luật biển quốc tế.

Lựa chọn cho Việt Nam
– Việt Nam không thể giữ được chủ quyền đối với các đảo Hoàng Sa va Trường Sa. Hoàng Sa đã mất hẳn vĩnh viễn. Trường Sa đang và cũng sẽ mất vĩnh viễn không gì cản được. Đó là một thực tế mà bất cứ ai cũng buộc phải thừa nhận, nếu không tự lừa dối.
– Chủ quyền trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa như các bằng chứng lịch sử và theo luật pháp quốc tế, chỉ có thể đoạt lại bằng chiến thắng của một cuộc chiến tranh. Điều này hiển nhiên là không tưởng.
– Việt Nam không thể chạy đua vũ trang dù chỉ để phòng thủ, vì trong khi Trung Quốc chạy đua với Mỹ và tìm mọi cách vượt Nga, phát triển quốc phòng của Trung Quốc sẽ biến cố gắng của bất cứ quốc gia nào khác ngoài Mỹ trở thành vô nghĩa, và bất cứ một ý định giành ưu thế, dù chỉ trên phương diện nào đó đối với Trung Quốc sẽ chỉ là ý định tự sát, vì kiệt sức. Việt Nam dù tăng cường trang bị đến đâu cũng chỉ để phòng thủ, nhưng phòng thủ trước một Trung Quốc luôn hung hãn lấn tới, chỉ là sự thụt lùi từng bước cho đến hết.
– Không thể lợi dụng Mỹ hoặc bất cứ quốc gia nào nhằm phục vụ ý nguyện bảo vệ chủ quyền của mình, kể cả chấp nhận liên minh. Liên minh dù với bất cứ sức mạnh nào củng chỉ đủ để ngăn cản, làm chậm sự bành trướng của đe dọa, và khả năng cao nhất cũng chỉ là để giữ nguyên trạng các mối đe dọa. Liên minh không giúp đoạt lại những gì đã mất. Liên minh là một tập hợp trong đó chỉ có sự giao thoa quyền lợi. Các quốc gia liên minh thường chỉ có một phần lợi ích chung được chia sẻ, trong khi sự ràng buộc và nghĩa vụ đối với lợi ích tổng thể nhiều khi lại đòi hỏi những hy sinh rất lớn.
– Chấp nhận và tiến tới  thừa nhận quyền của Trung Quốc trên toàn bộ biển Đông là việc không thể đảo ngược, ít nhất cũng là một thực tế nằm ngoài mọi ý chí của Việt Nam.

– Có hai lựa chọn chấp nhận.  
+ Một là chấp nhận nhưng   không thừa nhận. Không thừa nhận chứa đựng yếu tố không tưởng, nhưng tác động tới sự bất khả hoàn hảo các lợi ích quốc gia. Điều này có nghĩa là những gì đã mất, dẫu không thừa nhận nhưng không thể đòi lại, trong khi, do còn có đối kháng, các ưu tiên trong các chính sách phục vụ các lợi ích khác không có được sự hoàn hảo. Nghĩa là cả hai đều không được. Gọi là mất cả chì lẫn chài.
+ Hai là chấp nhận theo phương thức hoà nhập. Hoà nhập có hai hình thức khác biệt. Hoà nhập hoàn toàn, là hoà nhập tan biến. Nó trở thành một bộ phận hữu cơ của cộng đồng Trung Việt. Đây là loại hòa nhập theo nguyên lý sáp nhập của một quốc gia nhỏ vào một quốc gia lớn, và là bành trướng lãnh thổ của quốc gia lớn đối với quốc gia nhỏ.Việt Nam sẽ là một tỉnh hay một khu tự trị của Trung Quốc, có cùng một Hiến pháp. Khi đó Việt Nam sẽ không còn tên trên bản đồ thế giới. Biên giới nước Cộng hoà Trung Hoa sẽ kéo xuống tận Cà Mau. Người Việt Nam sẽ có ngôn ngữ chính thức là tiếng Quan thoại. Vấn đề chủ quyền biển đảo sẽ lập tức biến mất. Ngư dân Việt sẽ vĩnh viễn không bị tàu lạ đâm chìm trên khắp mọi nơi trên biển Đông mênh mông. Người Việt sẻ tự do đi Bắc kinh không cần visa. Loại hoà nhập này nằm trong âm mưu của tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc từ nhiều thế hệ. Các loại sức ép hiện tại cũng hàm ý “sáp nhập hay là chết”.
– Khác với hoà nhập hoàn toàn là hoà nhập lợi  ích. Hoà nhập lợi ích  là hoà nhập chỉ trên các vấn đề liên quan tới các loại lợi ích, nhưng không hoà nhập chủ quyền. Loại hoà nhập này cho phép đồng nhất hoá mọi lợi ích  kinh tế, nghĩa là trong lĩnh vực kinh tế sẽ không tồn tại ranh giới quốc gia. Loại hoà nhập này cũng đòi hỏi hợp nhất hoá an ninh quốc phòng. Sẽ không có chính sách quốc phòng riêng. Điều này có nghĩa là trên thực tế biên giới quốc phòng kéo tới tận Cà Mau của Việt Nam. Chính sách quốc phòng chung có trung ương tại Bắc kinh. Tuy vậy, Việt Nam trên trường quốc tế vẫn là quốc gia độc lập. Người Việt vẫn nói tiếng Việt và sử dụng tiền Đồng, có Hiến pháp riêng, nhà nước riêng. Loại hoà nhập này có mô hình thực tế là Cộng đồng chung châu Âu. Tiêu cùng một đồng tiền. Không có thuế giữa các biên giới, người dân trong khối có quyền sống và tìm việc làm mọi nơi trong cộng đồng. Không có chiến tranh bên trong biên giới chung của cộng đồng. Nguyên tắc của Cộng đồng là Đồng thuận. Điều kiện tồn tại của Cộng đồng là Dân chủ. Đồng thuận có thể có, nhưng Dân chủ thì cả Trung quốc lẫn Việt Nam đều không có. Loại hoà nhập này chưa có điều kiện khả thi.

– Lựa chọn duy nhất cho Việt Nam là tự dân chủ hóa.
Kinh nghiệm đang diễn ra trên thế giới khẳng định quyền tối cao là ý nguyện của dân chúng. Trưng cầu dân ý có khả năng vô địch chống lại mọi thủ đoạn, mọi thế lực. Chỉ có ý chí của toàn bộ 94 triệu người Việt Nam mới dập tắt được tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc. Không thể chiếm đất mà không thể cai trị. Không thể bành trướng lãnh thổ và tiêu diệt toàn bộ những con người sinh sống trên lãnh thổ đó. Đảng cộng sản Việt Nam hiện chỉ đại diện cho 4,5 triệu đảng viên, có lợi ích không hoàn toàn đồng nhất với toàn bộ phần còn lại của dân tộc, vì mục đích bảo đảm sự tồn tại của chế độ, đang từng bước nhường lợi thế cho kẻ thù dân tộc.
– Cùng với lựa chọn tự dân chủ hoá, Việt Nam có vai trò rất lớn giúp dân chủ hoá xã hội Trung Quốc. Chỉ có một Trung Quốc dân chủ thực sự, tức là khi quyền lực thực sự nằm trong tay nhân dân Trung Quốc, khi mà quy trình ra quyết định không nằm trong tay một nhóm người, thì chắc chắn tham vọng bành trướng, tham vọng chiếm đất của các quốc gia xung quanh sẽ bị tiêu tan. Không một dân tộc nào tôn thờ bất công. Xâm lược và nô dịch các dân tộc khác không phải là bản tính, là máu của người dân Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có một nền dân chủ như Pháp, Mỹ, như các nước phát tiển hiện đại, thì nguy cơ đe doạ chủ quyền của Việt Nam đã được hoá giải. Việt Nam đang là nước duy nhất trên trái đất có mối ràng buộc về sự tương đồng ý thức hệ cộng sản với Trung Quốc. Đó là một ưu thế chỉ Việt Nam có. Một Việt Nam dân chủ sẽ có tác động quan trọng, nếu không nói là quyết định đối với tiến trình dân chủ hóa của Trung Quốc.
– Dân chủ hoá Việt Nam sẽ đồng thời có tác dụng thúc đẩy nhanh tiến trình dân chủ hoá thực chất trong cộng đồng chung ASEAN. Một ASEAN dân chủ sẽ giúp cơ chế consensus (đồng thuận) của cộng đồng trở thành nguyên tắc để tạo sức mạnh chứ không phải là để Trung Quốc lợi dụng gây chia rẽ như hiện tại. ASEAN dân chủ sẽ là một thế giới vừa tạo thế bao vây vừa có tác động tích cực tới chuyển hóa xã hội ở Trung Quốc. Việt Nam sẽ phải cùng Hồng Kông, Đài Loan, Macao, Tân cương, Tây tạng, cùng trận tuyến với các nước dân chủ ASEAN, cùng với Nhật bản, Nam Hàn, Ấn độ, và cùng tất cả các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới vận động, hỗ trợ cho tiến trình dân chủ hoá Trung Quốc. Đó là con đường đúng cho Việt Nam.
Tóm lại, Trung Quốc Dân chủ là lối thoát duy nhất cho Việt Nam. Một Trung Quốc dân chủ sẽ giúp Việt Nam giải lời nguyền láng giềng lân bang, một nghiệp chướng án ngữ khát vọng tự do suốt bốn ngàn năm của người dân Việt Nam. Nhưng trước khi giúp Trung Quốc dân chủ thì Việt Nam phải tự Dân chủ.

3 nhận xét:

  1. Trần Công Thanh: Bài viết của Tác giả trên đây không có căn cứ lịch sử, thiếu cơ sở khoa học, mang nặng tư tưởng truyền bá âm mưu bành trướng "Đại Hán" của bon Tàu. Theo tôi, Trung Quốc sẽ không bao giờ đạt được giấc mộng "Đế ché La Mã"; mà chỉ như bóng ma của "Napoleon" & "Phát xít Hitle" mà thôi; còn ý chí độc lập, chủ quyền của Việt Nam thì đã được ghi vào lịch sử nhân loại rồi!

    Trả lờiXóa
  2. Tôi cũng đã đọc bài này trên một trang mạng và cũng có suy nghĩ như anh Thanh. Không có chuyện VN chấp nhận dù là kiểu gì Ngay cả khi TQ có dân chủ hóa-ddieuf này khó xảy a_ thì lãnh đạo của họ vẫn sẽ không buông BĐ đâu. Hy vọng ấy rất ngây thơ và dễ gây ảo tưởng ,mất cảnh giác. Giải pháp tốt nhất chỉ có thể là hợp tác với nhiều nước tạo ra sức mạnh răn đe đủ mạnh để ngăn chặn CN bành trướng BK ngày càng hung hăng.

    Trả lờiXóa
  3. Nguyễn Ngọc Hùng15:58, 27/02/2016

    Tôi cho rang bài viết trên đây rât thẳng thắn, mặc dù sự that rất cay nghiệt, có vẻ khó chap nhận. Ỹ chí của VN về độc lập và chủ quyền là điều không phải bàn cãi. Nhưng ý chí ấy ngày nay không đảm bảo lặp lại những chiến thắng lịch sử như từng xảy ra thời hồng hoang. Ngày xưa, Ta và Tàu đều chỉ có "người trần mặt thịt" đánh nhau. Ta có thế mạnh là đánh trên đất của mình nên dễ lừa chúng vào thế trận, mà chúng không biết. Ngày nay, thời đại khoa học kỹ thuật cao, thời đại internet. Ai có trang thiết bị- vũ khí hiện đại hơn, người đó nắm chắc thế thượng phong. Tương tự, nếu ta không thắng Mỹ năm 1975 thì nay làm sao thắng được, nếu Mỹ tập trung toàn lực đánh phá nước ta? Ngày ấy, Mỹ mất mấy tram máy bay mới phá được cầu Hàm Rồng. Nay, nếu chiến tranh nổ ra, nó chỉ cần ở tít tận đâu, nã 1 quả tomahok là xong!
    Nếu chiến tranh nổ ra bây giờ, cũng không dễ đuổi TQ đi như hồi 1979. Ngày ấy, nó không có vũ khí bắn tới Hà Nội. Nay thì nó có thể từ Bắc Kinh bắn tới tận Mũi Cà Mau!
    Chỉ có nhanh chóng hội nhập với thế giới, kéo họ đầu tư vào đây that nhiều, để nếu TQ đánh, thì họ cũng phải cùng VN bảo vệ lợi ích thiết thân của họ là hang tram, hang ngàn tỷ USD đang "chôn chân" ở VN; hang ngàn, hang vạn công dân của họ đang cư trú làm ăn tại VN...
    Không sợ TQ, nhưng "biết mình biết người" trong hoàn cảnh hiện nay để tìm phương sách thích hợp nhất bảo vệ tổ quốc, chống lại tham vọng "không gì ngăn cản nổi" của TQ, mới là tỉnh táo và khôn ngoan.
    Tôi nghĩ vậy.

    Trả lờiXóa